Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

23 thg 2, 2014

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO - bản tuyên ngôn độc lập

Đất nước Việt Nam chúng ta sau bao thăng trầm lịch sử tất không thể thiếu cho mình những bản tuyên ngôn độc lập. “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi được xem như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, sau “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt, và trước “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh.

Nguyễn Trãi  là một người văn võ toàn tài, từng làm quan dưới triều nhà Hồ. Sau đó, ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vủa Lê Lợi. Ông được xem là một nhà văn hóa lớn, với những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của văn học cũng như tư tưởng Việt Nam. Ông còn được công nhận là danh nhân văn hóa của Việt Nam và thế giới.  Vào năm 1428, sau cuộc chiếng chống quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Đại cáo bình Ngô”.

Đầu tiên, tại sao lại nói “Đại cáo Bình Ngô” là một bản tuyên ngôn độc lập? Thế, tuyên ngôn độc lập là gì? Tiêu chuẩn để được xem là một bản tuyên ngôn độc lập thì đầu tiên tác phẩm đó phải được viết trong hoặc sau một cuộc chiến. Ta có thể thấy “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên – được viết trong cuộc chiến chống Tống. Còn “Tuyên ngôn độc lập” thì được chủ tịch Hồ Chí Minh viết sau chiến thắng giặc Pháp năm 1945. Tương tự, “Đại cáo bình Ngô” là được viết sau chiến thắng quân Minh. Nội dung của một bản tuyên ngôn độc lập phải bao gồm ba phần: khẳng định dân tộc, tuyên bố thắng lợi, tuyên bố hòa bình. Không nhất thiết ohải đọc kĩ, ai cũng có thể thấy rằng bài cáo đã chứa đủ cả ba điều kiện trên. Dáng dấp tuyên ngôn độc lập được thể hiện rõ nét nhất là qua đoạn đầi của “Đại cáo bình Ngô”
Ngay từ những câu đầu tiên, “Đại cáo bình Ngô” đã khẳng định tính hiển nhiên của nên văn hiến nước nhà. Các cụm từ “từ trước”, “vốn ” nhấn mạnh tính lâu đời của dân tộc. Tiếp nối là “đã chia”, “phong tục… cũng khác” như vạch rõ ranh giới khác biệt của bờ cõi hai nước, không thể nhầm lẫn. Tất cả như khẳng định lại tính hiển nhiên, vốn có, sự lâu đời của nên độc lập nước ta. Sau đó, Nguyễn Trãi  đã điểm danh các triều đại của nước ta “Triệu, Đinh, Lí, Trần” song song với các triều ở phương bắc “Hán, Đường, Tống, Nguyên”. Cách dùng từ “xưng đế một phương” như chỉ sự ngang hàng, không thua kém dù chúng ta chỉ là một nước nhỏ. Từ xưa, khi Trung Quốc xưng hoàng đế, các nước xung quanh chỉ có thể xưng vương. Tuy nhiên, từ đời nhà Ngô, Ngô Quyền cũng đã xưng hoàng đế, nhấn mạnh sự ngang hàng của hai nước. Biện pháp liệt kê cũng như câu đối của tác giả càng khiến chúng ta cảm nhận được rõ hơn tầm vóc của cả hai nước. Trong bài cáo, Nguyễn Trãi cũng đã thể hiện sự tự tôn, tự hào dân tộc: “hào kiệt đời nào cũng có”. Nghệ thuật liệt kê lại được vận dụng để nhấn mạnh sự thất bại của kẻ thù, : “Lưu Cung… thất bại”, “Triệu Tiết … tiêu vong”, “bắt sống Toa Đô”, “giết tươi Ô Mã”, nhấn mạnh chủ quyền dân tộc. Ở cuối đoạn, “chứng cớ còn ghi” như lần nữa nhấn mạnh lại nền độc lập dân tộc, như chỉ rằng chứng cớ ghi rõ, chối cũng không được.

Ta có thể nói “Đại cáo bình Ngô” là một bản nâng cấp của “Nam quốc sơn hà” làm hoàn thiện hơn bản tuyên ngôn độc lập ngắn gọn đầu tiên của nước ta. Trong khi Lý Thường Kiệt chỉ dùng bốn câu ngắn ngủi để nhấn mạnh độc lập dân tộc, Nguyễn Trãi đã có một bài cáo dài để lấp đi tất cả các khuyết điểm của Lý Thường Kiệt. Thay vì chỉ nói đơn giản “nam đế cư”, Nguyễn Trãi đã liệt kệ rõ các triều đại Việt Nam trước đó, làm rõ thêm cho chữ “đế” của Lý Thường Kiệt. “Định phận tại thiên thư”, sách trời thì quá xa vời với con người, dù biết trời cao đại diện cho sự đúng đắn và chính trực, tuy nhiên không ai có thể thấy, nhưng bài cáo lại lần nữa làm rõ khi nói “chứng cớ còn ghi”, tức ai nếu tìm hiểu đều sẽ thấy, không phải thứ bí ẩn bị che giấu gì. Tất cả như tăng thêm tính thuyết phục cho người đọc khi đề cập tới tính sở hữu lãnh thổ Việt Nam. Không như Lý Thường Kiệt chỉ buông một lời hâm dọa “lai xâm phạm… thủ bại hư”, “Đại cáo bình Ngô” đã hóa thực lời hâm dọa đó khi kể tên các chiến công lẫy lừng của nhân dân ta trong lịch sử chống và giết giặc. Nhấn mạnh tính chủ quyền cũng như cho mọi người cùng rõ đó không phải là một lời nói suông. Từ đó, “Đại cáo bình Ngô” trở thành bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, làm hoàn thiện hơn phiên bản đầu tiên.


Nguyễn Trãi đã rất thành công trong “Đại cáo bình Ngô”, biến nó thành một văn bản khẳng định tính độc lập, cũng như lâu đời của đất nước ta. Bài cáo chính là một minh chứng hùng hồn về con người cũng như đất nước dân tộc mãi cho đến ngày nay.

Messie Huỳnh

* Đôi lời: viết gấp trước khi thi để lấy ý, tất nhiên là rất nhiều lỗi cũng như ý còn thiếu hay lập từ, mong mn thông cảm

9 thg 12, 2013

Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi

Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi

    Trong tất cả các nhà thơ trung đại, Nguyễn Trãi có lẽ là vị thi nhân có cuộc đời thăng trầm nhất, khi mà cả hạnh phúc lẫn khổ đau đều được đẩy lên đến đỉnh điểm. Nhưng không ai có thể phủ nhận tài năng của ông, một nhà thơ kiệt suất đã để lại những đóng góp to lớn cho kho tàng thơ ca Việt Nam, thậm chí còn là người đặt nền móng và mở đường cho sự phát triển của thơ tiếng Việt – thơ Nôm. “Cảnh ngày hè” chính là bài thơ tiêu biểu cho tài năng cũng như thể hiện đậm nét phong cách cùng suy nghĩ rất riêng của Nguyễn Trãi.

     Từ những bão táp cuộc đời mình, thơ Nguyễn Trãi mang phong cách và tư tưởng rất riêng. Thơ ông thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc đời đầy phức tạp cùng tình cảm nhân hậu và chân thành đối với đất nước, con người. Qua thơ, ta còn có thể thấy ở Nguyễn Trãi tâm tư u uất cùng khát vọng lớn lao của với đất nước. Như đã đề cập ở trên, “Cảnh ngày hè” có thể xem là bài thơ tiêu biểu cho phong cách của ông. Bài thơ là bài thơ số bốn mươi ba trong “Quốc âm thi tập”, được viết trong thời gian Nguyễn Trãi bỏ chốn quan trường lui về ở ẩn. “Cảnh ngày hè” chính là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của mùa hè, chứa đựng trọn vẹn tình yêu đời, yêu dân yêu nước của Nguyễn Trãi.

    Sáu câu đầu “Cảnh ngày hè” được dùng để diễn tả tâm hồn yêu thiên nhiên đất nước, yêu cuộc sống trong những ngày ẩn của Nguyễn Trãi. Hoàn cảnh sinh sống của tác giả được tô đậm ngay từ câu đầu bài thơ:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường,”

     Ngay từ đầu bài thơ, Nguyễn Trãi đã nêu ngay cuộc sống thanh bình những ngày ở ẩn của ông. “Rồi” của nghĩa là rãnh rỗi, cùng “ngày trường”, ta có thể thấy được sự tái hiện của cuộc sống nhàn tản, không vướng bận, hòa mình vào thiên nhiên của ông. Dù được tổ chức theo kiểu một bài thất ngôn bát cú nhưng bài thơ lại mở đầu bằng một câu thơ lục ngôn, ngắt nhịp tự do 1/2/3kéo giãn thời gian một ngày, khiến người đọc có thể cảm nhận được sự tự tại, không gò ép của ông, cảm giác thư thái cũng theo đó mà ngân nga, lắng đọng.

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”

    Ở năm câu thơ tiếp theo chính là bức tranh thiên nhiên về mùa hè tuyệt đẹp, tất cả đều được tái hiện qua đôi mắt người thi nhân vĩ đại. Dùng biện pháp liệt kê, kể các hình ảnh gắn liền với mùa hè như hoa hòe, lựu, hoa sen, chợ cá. Tất cả đã vẽ nên một bức tranh bình dị, gần gũi của cuộc sống thôn quê. Nguyễn Trãi đã tinh tế pha trộn cả hai không gian tĩnh và động. Sự động được thể hiện qua các động từ cũng như sử dụng từ láy hình ảnh có tính chất mạnh mẽ như “đùn đùn”, “phun”, “tiễn”, “giương”. Từ đó, ta có thể cảm nhận được sức sống mãnh liệt căn tràn bên trong vạn vật. Nếu mùa xuân là khi cây trái đâm chồi nảy lộc, thì mùa hè chính là lúc chúng mạnh mẽ nhất, phô ra cái căng đầy và sung mãn nhất của sự trưởng thành.

     Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng đến nghệ thuật màu sắc để tô điểm thêm cho bức tranh của mình. Từ màu xanh um tùm của lá cây, màu vàng của hoa hòe, đỏ của lựu rồi màu hồng của hoa sen, ta có thể thấy có sự pha trộn giữa hai gam màu nóng lạnh, nhưng tất nhiên gam màu nóng chiếm ưu thế chủ đạo. Trong số đó, hoa lựu đã không còn là màu đỏ nhàn nhạt mà được thể hiện đầy rực rỡ như mặt trời ngày hè. Sau này, Nguyễn Du cũng dùng hình ảnh hoa lựu để diễn tả mùa hè của mình.

“Dưới trăng quyên đã gọi hè, 
Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông.”

     Nguyễn Du cũng ví hoa lựu của mình như ngọn lửa. Tuy nhiên, “lập lòe” là một từ nhẹ, như làm giảm đi cái nóng của ngọn lửa ấy, không thể rực rỡ bùng cháy như hoa lựu của Nguyễn Trãi “phun thức đỏ”.

Dù Nguyễn Trãi chưa đề cập đến sự oi bức nhưng ta cũng có thể cảm nhận được cái nóng và nắng cháy da xé thịt của ngày hè. Qua bài thơ, ta còn ngửi thấy mùi hương hoa sen hồng thoang thoảng trong gió, nghe thấy âm thanh “lao xao” của chợ cá phía xa và đặc biệt hơn là tiếng ve đầy đặc trưng mà chỉ ngày hè mới có. Nguyễn Trãi cảm nhận tiếng ve như một bản hòa âm của mùa hè, là “cầm ve” tức bản đàn của chứ không còn là những tiếng “chi chi” đơn điệu. Tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ để nhận mạnh thêm về mặt âm thanh, tái hiện lại ánh chiều tàn của một ngày nhưng vẫn không thiếu phần rộn ràng. Năm câu thơ đã thể hiện trọn vẹn sự gắn kết của Nguyễn Trãi với thiên nhiên, khi ông dùng tất cả các giác quan của mình (trừ vị giác) cùng sự liên tưởng để cảm nhận mùa hè một cách trọn vẹn nhất, khiến cho người đọc nhận ra được tình yêu thiên nhiên của ông cùng sự giao cảm mãnh liệt nhưng không thiếu phần tinh tế của nhà thơ với ngày hè.

“Dẻ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

     Qua hai câu kết, Nguyễn Trãi cũng đã trải lòng mình ra, tấm lòng thương dân yêu nước. Mặc dù ông đang ở ẩn, nhưng vẫn không thể buông xuống gãnh nặng lo lắng cho nhân dân. “Thân nhàn nhưng tâm không nhàn” – một mô tip thường thấy trong thơ Nguyễn Trãi. Từ “dẻ có” trong câu thơ có nghĩa là nên có, tức đây là mong muốn của tác giả. Nguyễn Trãi sử dụng thần thoại Trung Quốc về cây đàn của vua Ngu Thuấn, đàn lên khúc Nam Phong, cầu cho dân chúng thêm nhiều của, ấm no hạnh phúc. Ý nghĩa của cả câu thơ chính là Nguyễn Trãi mong muốn có được cây đàn của vua Ngu Thuấn để đàn khúc Nam Phong cho nhân dân thái bình hạnh phúc. Mở đầu bằng một câu thơ sáu chữ, kết thúc bằng một câu thơ sáu chữ, cùng cách ngắt nhịp 3/3 ngắn gọn, dứt khoát, cùng việc sử dụng nghệ thuật liệt kê tăng tiếng “giàu”, “đủ”, “đòi”, câu thơ cuối nói lên mong muốn dân giàu đủ mạnh mẽ chắc chắn của Nguyễn Trãi, không chỉ ở một địa phương mà là “khắp đòi phương” túc ở mọi nơi. Tấm lòng thanh cao của Nguyễn Trãi lan dài, dù trong mọi hoàn cảnh, lòng ông luôn quan tâm tới đất nước. Đó cũng là lí do vì sao sau khi ông lui về ở ẩn, ông vẫn tiếp tục hỗ trợ, tham vấn cho triều đình nhưng không trực tiếp làm quan. Câu thơ lục ngôn cuối cùng ấy tuy ngắn gọn nhưng đã thể hiện được sự dồn nén cảm xúc của Nguyễn Trãi trong cả bài thơ.

     Với nghệ thuật cùng ngôn ngữ hình ảnh giản dị, gần gũi cùng năng lực sáng tạo kiệt suất của Nguyễn Trãi, ông đã biến hóa thành công thể thơ thất ngôn Đường luật và sử dụng như một thể thơ dân tộc, giúp thể hiện thành công và trọn vẹn tâm ý của nhà thơ.

     Nguyễn Trãi là một nhà thơ đáng ngưỡng mộ không chỉ ở tài năng mà còn ở tấm lòng yêu thiên nhiên, thương dân và trung hậu với đất nước. “Cảnh ngày hè” đã xuất sắc thể hiện trọn vẹn lại không chỉ cái tài mà còn cả cái tâm của Nguyễn Trãi.

Messie Huỳnh

NHÀN – NGUYỄN BỈNH KHIÊM

NHÀN – NGUYỄN BỈNH KHIÊM

     Nguyễn Bỉnh Khiên là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một kho tàng thơ đồ sộ, và đã có gần một nghìn bài thơ được tìm thấy. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm tính triết lí, giáo huần, ngợi ca ý chí, thú thanh nhàn và đồng thơi phê phán những điều xấu xa trong xã hội. “Nhàn” chính là bài thơ tiêu biểu mang đậm phong cách riêng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là bài thơ Nôm trong “Bạch Vân quốc ngữ thi”.

     Ngyễn Bỉnh Khiêm làm quan dưới triều Mạc, nhưng sau khi thất bại trong việc dâng sớ xin chém mười tám tên nịnh thần, ông lui về ở ẩn. Trong thời gian đó, ông đã viết rất nhiều bài thơ, và “Nhàn” là một trong số ấy. Tiêu đề “Nhàn” không phải của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà là do người đời sau đặt. Bài thơ như lời tâm sự sâu sắc của tác giả về quan niệm sống, khẳng định cách sống nhàn, hòa hợp với thiên nhiên, giữ cố cách thanh cao, không màng danh lợi.

“Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”

     Hai câu đầu, cũng là hai câu đề bài thơ đã tái hiện lại hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc bấy giờ cũng như tâm trạng của ông. Ở câu đầu tiên xuẩt hiện những công cụ quen thuộc “cuốc”, “cần câu”, cùng từ “một” được lập lại nhiều lần, gợi lên cuộc sống bình dị của một lão nông nhàn nhã. Bên cạnh đó, cách ngắc nhịp đặc biệt 2/2/3 cũng góp phần làm sáng tỏ sự nhàn hạ đó. Ở câu thơ thứ hai, “thơ thẩn” được dùng để thể hiện trạng thái thảnh thơi, không lo âu , vướng bận, khắc họa hình ảnh một con người chậm rãi, khoan thai. Đặt vào hoàn cảnh của tác giả, có thể thấy lúc nhàn rỗi của ông chính là thơi gian ông lui về ở ẩn. “Dầu ai vui thú nào” ý chỉ việc tác giả không quan tâm đến lựa chọn của người khác, không còn bon chen giành giật ở chốn quan trường mà kiên định với sự lựa chọn của bản thân, ẩn mình khỏi vong danh lợi, sống nhẹ nhành vui thú điền viên. Sự lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm càng được thể hiện rõ nét hơn qua hai câu thực tiếp theo.

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”

     Trong hai câu thơ trên, nghệ thuật đối lập được tô đậm qua cách dùng tính từ “dại”-“ khôn”, “vắng vẻ”-“lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tự cho mình là “dại” khi tìm đến chốn thôn quê, “nơi vắng vẻ” sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho người người đuổi theo vinh hoa phú quý, tìm đến “chốn lao xao” . “Nơi vắng vẻ” là nơi yên bình, người người hiền lành chất phác, sống hòa hợp với thiên nhiên, trong khi đó “chốn lao xao” là kinh đô phồn hoa nhộn nhịp, là chốn quan quan trường luôn đầy rẫy những con người bị nhuốm bẩn bởi tiền tài, tham vọng, những âm mưu ngoan độc, nơi  người đạp người đi lên. Vậy câu hỏi đặt ra là, lối sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm là lối sống vô trách nhiệm? Xét theo hoàn cảnh của ông, khi triều đình đang diễn ra tranh chấp địa vị, quyền lực, mặc cho nhân dân đói khổ thì hoài bảo giúp vua giúp nước an dân của Nguyễn Bỉnh Khiêm tất nhiên là thật khó để thành sự thật. Vì thế, ông đã quyết định rời bỏ “chốn lao xao” để giữ lại cốt cách thanh cao của mình. Ta có thể thấy trong thời gian ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tiếp tục tham vấn cho triều đình nhưng không trực tiếp tham gia vào việc triều chính nên không thể nói rằng lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là lựa chọn vô trách nhiệm, mà đó là cách làm thật đúng đắn. Do đó qua hai câu thơ, tác giả còn sử dụng cách nói ngược, dùng hàm ý mỉa mai. Trong thi phẩm “Dại khôn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm một lần nữa thể hiện quan niệm, trí tuệ và nhân cách hơn người của mình khi nói:

“Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.”

     Trở lại với cuộc sống ẩn dật của mình, tác giả đã tái hiện lại cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên của mình qua hai câu luận tiếp theo của bài thơ.

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”

     Hai câu thơ là bức tranh tứ bình về sinh hoạt cả 4 mùa xuân hạ thu đông. Hai câu thơ vận dụng biện pháp liệt kê, liệt kê cả bốn mùa cũng những thức ăn, sự vật có trong mỗi mùa. “Mùa nào thất nấy”, quả vậy, tác giả sống hòa mình vào thiên nhiên, không cần những thứ xa hoa, cao sơn mĩ vị. Cuộc sống ông đạm bạc đến không thể đạm bạc hơn, có gì ăn đó, còn gì dùng nấy, không cầu kì đòi hỏi. Mùa thu thì có măng trúc, khi đông đến, vạn vật không thể đâm chồi lại có giá thay. Tuy nhiên, bên cạnh nghĩa gốc, lại có ý kiến cho rằng, “giá” ở đây còn có nghĩa là “giá rét”. Xuân Diệu cũng từng nói rằng “cảm tưởng tác giả ăn giá tuyết, uống măng đông”. Theo cách nghĩ này, có thể nói ông không cần một cuộc sống ấm no đầy đủ, dù có thiếu thốn đôi chỗ nhưng ông vẫn rất hài long với cuộc sống hiện tại. Xoay tiếp sang “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.” Câu thơ diễn tả bức tranh sinh hoạt không chỉ bình dị mà còn đầy tính thẩm mĩ. Tất cả đã xây dựng nên một cuộc sống đạm bạc, giản dị, thanh cao.

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

     Hai câu kết này như phủ định lại chữ nhàn mà tác giả thể hiện từ đầu bài thơ đến giờ, chỉ ra rằng tác giả là “nhàn thân không nhàn tâm”, tức ngoài mặc ông có vẻ thoải mái, nhàn rỗi nhưng trong lòng luôn vướng bận nhiều lo âu, suy nghĩ. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tích điển Thuần Vu Phần uống rượu say. Khi say, Thuần Vu Phần mơ thấy đến nước Hòe An, được rất nhiều vinh hoa phú quý, nhưng cuối cùng tỉnh mộng và nhận ra đó chỉ là giấc mơ. Khi sử dụng điển tích này, Nguyễn Bỉnh Khiêm như nhấn mạnh bản thân xem nhẹ phú quý, bởi bản thân ông đã từng làm quan cho nhà Mạc, có đủ phú quý nhưng ông không xem trọng nó, không lấy nó làm mục đích sống, chỉ xem đó như là một giấc mộng không có thật, khiến người ta sa vào để rồi hụt hẫng khi giật mình tỉnh dậy, nên ông đã  tìm đến nơi làng quê thanh bình để giữ lại cho mình cốt cách thanh cao. Hai câu thơ thể hiện cái nhìn cũng như quan niệm sống của một nhà trí tuệ lớn, có tính triết lí sâu sắc. Ngoài ra, với cách ngắt nhịp 1/3/3 đầy mới lạ, Nguyễn Bỉnh Khiêm như muốn nhấn mạnh thêm về cái nhìn của mình.

      Mặc dù “Nhàn” là một bài thơ Nôm, nhưng với cách sử dụng ngôn ngữ đầy giản dị, tự nhiên khiến người đọc cảm thấy dễ hiểu, cũng là cách làm rõ quan niệm sống nhàn của ông. Nguyễn Bỉnh Khiên còn qua bài thơ, kết hợp tính trữ tình vào triết lí, làm bài thơ thêm phần thâm trầm nhưng sâu sắc. Cả bài thơ đã thể hiện trọn vẹn cái nhìn và cuộc sống của tác giả, về sự hòa mình vào thiên nhiên, giữ vững cốt cách thanh cao cũng như tránh xa vòng danh lợi nhưng lại không thể tránh khỏi việc trong lòng vẫn còn vướng bận việc nước, lo nghĩ cho dân, nhân mạnh trí tuệ và nhân cách hơn người của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

     “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là tiêu biểu cho dòng thơ Nôm trong nền thơ ca Việt Nam nói chung và kho tàng văn học trung đại nói riêng. Bài thơ chính là cách truyền lại quan niệm sống trong sạch, thanh cao đáng ngưỡng mộ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến các thế hệ mai sau.


Messie Huỳnh

24 thg 5, 2013

so sánh hình tượng người lính giữa "Bài thơ tiểu đội xe không kính" và "Đồng chí"

Cảnh báo: bài viết hơi nghiêng về phía BTVTĐXKK nên mọi ng` cẩn thẩn khi dùng làm tài liệu
còn nhiều lỗi sai về chính tả, dùng từ và diễn đạt, nhưng tạm thời tớ chưa có thời gian sửa chữa hay dò kĩ lại, nếu ai đọc đc và tìm ra lỗi, hãy để lại lời nhắn, và tớ sẽ xem xét và sửa lỗi để đưa ra bài viết tốt nhất


    
 Đất nước Việt Nam ta với lịch sử nghìn năm chống giặc đã được ghi vào nền văn học nước nhà bằng rất nhiều tác phẩm tuyệt vời. Trong số đó có không ít tác phẩm viết về hình ảnh người lính qua nhiều thời kì bảo vệ tổ quốc. Mỗi tác giả một phong cách, nhưng tất cả họ đều để lại trong lòng người đọc nhiều hình ảnh đẹp về cái gian, cái khổ cũng như tinh thần bất khuất, quả cảm, yêu nước của người lính. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và “Đồng chí” của Chính Hữu có thể được xem là hai tác phẩm tiêu biểu cho thời kì chống Mĩ và chống Pháp. Cả hai đều có những điểm giống nhau về mặt ý nghĩa, song mỗi tác phẩm lại có cho mình chất rất riêng.

     “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” và “Đồng chí” đều phản ánh rất chân thực về hình ảnh người lính cách mạng trong công cuộc bảo vệ nước nhà. Bởi lẽ, cả hai tác giả Phạm Tiến Duật và Chính Hữu cùng là những người lính trẻ, tốt nghiệp xong đại học đã phải nhập ngũ, bỏ cả khát vọng và tương lai phía trước. “Tổ quốc lâm nguy thất phu hữu trách”.

     Cả hai bài thơ đều khởi đầu bằng hình ảnh người lính đầy mộc mạc với tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất, sẵng sang hi sinh vì tổ quốc thân yêu. Người xưa có câu: “Tổ quốc lâm nguy thất phu hữu trách”, phận làm trai sao có thể ngồi yên khi quê hương lâm vào cảnh lầm than. Ở “Đồng chí”, những người lính xuất thân từ nghề nông chân lấm tay bùn, với cuộc sống khó khăn nghèo đói “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”. Họ là nông dân, chân chất mộc mạc, nay vì tổ quốc lâm nguy mà tình nguyện đứng lên, bỏ “ruông nương”, “gian nhà” với cày cuốc, vốn là tài sản một đời của họ, lại phía sau để thay vào đó là khẩu súng anh hùng bảo vệ nước nhà, dấn thân vào cuộc đời chiến sĩ. Từ “gửi”, “mặc kệ” như nói lên lòng quyết tâm, khẳng định tinh thần của họ. Không xây dựng hình ảnh người nông dân áo lính như “Đồng chí” Chính Hữu, hình ảnh các chàng thanh niên trai trẻ đầy tri thức, tài năng, triển vọng cho tương lai phải từ bỏ giấc mơ để bước vào cuộc chiến được Phạm Tiến Duật miêu tả rất chân thực trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Với giọng thơ đậm chất khẩu ngữ, dí dỏm của mình, những chàng lính trẻ lái xe Trường Sơn hiện lên thật sống động trong lòng đọc giả.

    Tất nhiên, đã là chiến tranh thì ắt phải đau thương, khốc liệt. Cả hai bài thơ đều đã hoàn thành rất xuất sắc vai trò của mình trong việc truyền đạt sự tàn nhẫn, gian khổ ấy của cuộc đời cách mạng của người chiến sĩ. Khác với lối viết câu thơ như lời nói của Phạm Tiến Duật, với phong cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, viết ít hiểu nhiều, Chính Hữu đã cho ta thấy cuộc đời người lính thời kì đầu chống Pháp gian nan thế nào. Hình ảnh “áo… rách vai”, “quần.. có vài mảnh vá”, “chân không giày” nói lên sự thiếu thốn của cuộc sống lúc bấy giờ. Song, sự khó khăn còn to lớn hơn khi phải đối mặt với những cơn “sốt run người”của rừng đêm, bởi không cần phải ra ngoài mặt trận làm gì, họ vẫn có thể ra đi vì những căn bệnh mà lúc bấy giờ vẫn chưa có thuốc. Với Phạm Tiến Duật, thay vì diễn tả cái khó trong sinh hoạt của người lính như Chính Hữu, ông chọn cho mình cái thật hơn, sự khốc liệt của chiến tranh. Ngay ở cái tựa bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cũng đã nêu lên được cái khốc liệt đó. Ban đầu, chiếc xe nào cũng lành lặn, đầy đủ như nhau, nhưng qua ngày tháng “bom giậc bom rung” thì dù cho có là chiếc xe tốt nhất đi nữa thì vẫn phải hỏng. Không chỉ dừng lại ở kính, những chiếc xe trên đường Trường Sơn còn tồi tàn hơn với “không có đèn”, “không có mui xe”, “thùng xe có xước”. Tuy nhiên, đâu chỉ chiếc xe mới chịu đau chịu khó, chính những người lính ngồi trên chúng mới là những con người đáng quí hơn cả. Họ không chỉ phải lái những chiếc xe gần như hỏng kia, mà họ còn phải đối mặt với gió, mưa, bụi và bom của đường Trường Sơn nắng gió.

      Tuy chiến tranh khó khăn, tàn bạo là thế, những người lính vẫn luôn yêu đời, tình đồng chí đồng đội vẫn luôn tồn tại, là nguồn động lực, dộng viên tinh thần mỗi một người lính, được thể hiện rất rõ nét và chân thực ở cả hai bài thơ, gây cho người đọc nhiều xúc cảm sâu lắng. Qua giọng thơ dí dỏm của Phạm Tiến Duật, những cái khó ấy hóa lông hồng, nhẹ tênh trước sự yêu đời, lạc quan, ngang tàn và niềm tin chiến thắng của những người lính trẻ. Nếu có “gió” thì “xoa mắt đắng”, “bụi phun” thì cứ “phì phèo châm điếu thuốc”, “cười ha ha”, “mưa phun mưa xối” thì “gió lùa khô mau thôi”. Sự lạc quan thể hiện rõ nét nhất qua giọng điệu “cười ha ha” trước sự nguy hiểm. Nếu so sáng với “cười buốt giá” của “Đồng chí” thì nụ cười của những người lính lái xe Trường Sơn này thoải mái hơn, lạc quan hơn rất nhiều, dù hiện thực chiến tranh Mĩ nếu so ra có vẻ khốc liệt hơn cuộc chiến chống Pháp. Niềm tin, sự động viên của những người lính còn được truyền tới nhau qua những cái nắm tay đầy ý nghĩa. “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Những cái nắm tay chắc nịch, thân tình truyền nhau hơi ấm, tình yêu thương cũng như lời chúc phúc. Song, không như “Đồng chí”, cái bắt tay của “BTVTĐXKK” nhanh hơn rất nhiều, không chỉ truyền nhau niềm tin hi vọng, mà qua đó còn cho ta thấy sự tàn khốc của chiến tranh, mang theo niềm tin kia ra chiến trường mà vạn người đi không đường về. “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”. Trong chiến khu, mọi người là nhà, là anh em. Ở “Đồng chí”, những người lính là những người nông dân chân lấm tay bùn “tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”, là người xa lạ nhưng sau rốt lại gắn bó “thành đôi tri kỉ”, từ tri kỉ ý nói như bạn đời, như thân quen lắm. Bên cạnh “đôi tri kỉ” của Chính Hữu, Phạm Tiến Duật lại diễn tả sâu sắc hơn nữa tình đồng chí đồng đội của những người lính, “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. “Tri kỉ” sau rốt vẫn là bạn, nhưng “gia đình” lại là chung máu mủ, là ruột thịt huyết thống. Hình ảnh “chờ giặc tới” hay “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước” thể hiện nên một đức tính đẹp của người lính. Dù mỗi người lính một cá tính, thì khi đã là một người lính, họ đều giống nhau ở chỗ ai trong họ cũng là một con người quả cảm, ngoan cường, sống trong họ chính là niềm tin về một ngày mai tươi sáng. Từ “vẫn” như muốn nhấn mạnh sự quyết tâm của họ. “Chỉ cần trong xe có một trái tim”, câu thơ cuối cùng của “BTVTĐXKK” dù không có vần điệu với những câu thơ khác, song lại thể hiện rất mạnh mẽ niềm tin của người lính vào chiến thắng. Các sử dụng hình ảnh hoán dụ “trái tim” như làm đẹp hơn những người lính quả cảm giàu khát vọng hòa bình độc lập.

   Mặc dù hai bài thơ có cùng nét tương đồng về ý nghĩa nói lên hiện thực chiến tranh khốc liệt và nâng cao tình đồng đội, nhưng bên cạnh đó, cả hai đều có những nét đẹp đặc trưng cho riêng mình. Ngoài cái cơ bản khác nhau về những thứ như tựa đề hay tác giả, thì cả hai bài thơ còn được viết ở hai bối cảnh riêng biệt. Bài thơ “Đồng chí” được viết trong thời kháng chiến cống Pháp, còn “BTVTĐXKK” được khắc họa dưới bầu trời Trường Sơn bom đạn những năm nước ta kiên cường đánh Mĩ. Ngoài ra, cả hai bài thơ còn khác nhau ở phong cách văn ở mỗi tác giả. Như đã đề cập ở trên, với lối viết cô đọng hàm súc, lời ít ý nhiều, nhà thơ Chính Hữu đã cho ra đời “Đồng chí”. Còn với Phạm Tiến Duật, phong văn của ông mang tính khẩu ngữ, lời thơ tựa lời nói song vẫn đậm chất thơ, đã tạo nên một “BTVTĐXKK” mà chúng ta đang nói đến hôm nay. Về nội dung cả hai bài thơ, tuy giống nhau nhiều mặt nhưng nếu chú ý, ta có thể cảm nhận được rằng “Đồng chí” của Chính Hữu, giống như tựa đề, tập trung đề cao tình đồng đội anh em keo sơn gắn bó, còn với “BTVTĐXKK”, nhà thơ Phạm Tiến Duật lại đẩy mạnh cái gian khó của các chàng chiến sĩ lái xe Trường Sơn trong công cuộc bảo về nước nhà.


    Tuy có nhiều điểm giống nhau cũng như khác nhau nhưng cả hai bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “BTVTĐXKK” của Phạm Tiến Duật đều góp một phần không nhỏ trong việc làm phong phú hơn nền văn học nước nhà, đề cao tình đồng chí đồng đội và nhất là hình ảnh người lính qua cả hai thời kì. Hai tác phẩm cũng đã làm nên tên tuổi của nhà thơ Chính Hữu và Phạm Tiến Duật. Sau khi được đọc và cảm nhận, em nhận ra rằng mình nên trân trọng thời bình êm đềm ấm no mà bao ông cha đi trước hi sinh thân mình để thế hệ hôm nay có được. Cố gắng học thật giỏi, trở thành người công dân tốt để góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để sự hi sinh kia không phải là vô nghĩa.

Messie Huỳnh

1 thg 3, 2013

Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" - Nguyễn Thành Long


   Nguyễn Thành Long tuy là một cây bút chuyên về truyện ngắn và kí nhưng vẻ đẹp nghệ thuật của ông không nằm ở những phát hiện sắc sảo, sự táo bạo, kịch tính mạnh mẽ trong tác phẩm. Vẻ đẹp ấy đến từ sự dịu dàng đậm chất thơ, sâu lắng và trầm lặng như tiếng chuông ngân dài trong tim tôi cũng như người đọc, để lại những khoảng lặng, những cảm xúc khó nói thành lời. Tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” như một minh chứng tiêu biểu cho phong cách văn của ông. Tác phẩm được viết qua một chuyến thực tế Lào Cai của tác giả, kể về một vùng đất thầm lặng và đã khắc họa thành công hình ảnh những con người đang làm việc quên mình để cống hiến cho đất nước, được thể hiện rõ nét nhất qua hình ảnh nhân vật anh thanh niên.

   Cốt truyện về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa một họa sĩ già đến với Sa Pa để tìm tác phẩm để đời của bản thân, một cô kĩ sư trẻ vừa ra trường đi nhận công tác và một anh thanh niên đang làm việc trên đỉnh Yên Sơn. Tuy các nhân vật có khác nhau về tuổi trác, nghề nghiệp nhưng ai trong họ cũng có chung một thái độ sống, lao động và cống hiến hết mình cho Tổ quốc, một cách vô tư hồn, nhiên âm và thầm lặng lẽ. Với cốt truyện đơn giản, tác giả đã xây dựng và làm rõ nét hơn những sự cống hiến ấy.

   Nhân vật anh thanh niên ở tuổi đời hai mươi bảy tươi đẹp rời bỏ chốn phồn hoa đô hội để đến với một Sa Pa lặng lẽ buồn tênh. Ngay ở cái tựa của tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” như phần nào diễn tả cái lặng lẽ đến đáng sợ ở nơi này. Đó là cái lặng lẽ của đỉnh núi Yên Sơn “cao hai nghìn sáu trăm mét”, “bốn bề chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo”. Lặng lẽ ở đây như chỉ về sự cô độc của anh thanh niên một mình với “công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu”, “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”, là “người cô độc nhất thế gian”- theo như lời bác lái xe, “thèm người” đến mức phải đẩy cây ngáng đường chỉ để xe dừng lại nói chuyện một lát. Rồi cái lặng lẽ này còn là cái lặng lẽ lúc nửa đêm, khi đến giờ “ốp”, “ghi và báo về lúc một giờ sang”, một mình anh “Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ”. Lặng lẽ là thế, cô đơn là thế, anh vẫn chấp nhận và thậm chí là hạnh phúc với công việc của mình, điều mà không phải ai cũng có. Anh bảo ảnh nào có cô đơn   “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?”, “ lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà” Anh cũng khát khao được hi sinh cho Tổ quốc đấy, được cầm sung ra trận khi cùng bố nộp đơn đi lính, nhưng giờ đây anh lại hạnh phúc với những gì mình đang có bởi anh hiểu mình cũng đang góp phần bảo vệ nước nhà, nhất là khi biết nhờ mình phát hiện đám mấy khô mà “không quân ta hạ đựơc bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng” . Điều đó cùng những chi tiết trên cho ta thấy lòng yêu nước,  nghề sâu sắc, sự cần cù, đam mê và cống hiến cho nghề cũng như trách nhiệm của anh với công việc gian khổ.

   Những tính các cao đẹp của anh không chỉ dừng lại ở đó mà còn nằm ở lòng nhân hậu, sự khiêm tốn, lễ phép, đơn giản mà chất phác trong anh. Anh đã tự tạo cho mình thú vui nơi vắng vẻ như trông hoa nuôi gà. Sự đơn giản của anh được thể hiện qua chi tiết “Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời anh thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách”. Thế giới riêng của anh đấy, chỉ vỏn vẹn như thế mà thôi. Hành động tặng củ tam thất cho vợ bác lái xe, trứng và hoa cho ông họa sĩ và cô kĩ sư đã phần nào chỉ ra sự hiền lành, quan tâm mọi người của anh. Rồi khi ông họa sĩ có ý muốn vẽ anh, anh dù từ chối nhưng vẫn ngồi yên, thể hiện sự lễ phép, tôn trọng của anh đối với ông. Anh bắt đầu gợi ý cho ông họa sĩ những người khác mà anh cho là thích hợp hơn anh để vẽ như ông kĩ sư vườn rau “Ngày này sang ngày khác ông ngồi im trong vườn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào. Rồi, để được theo ý mình, tự ông cầm một chiếc que, mỗi ngày chín mười giờ sáng, lúc hoa tung cánh, đi từng cây su hào làm thay cho ong. Hàng vạn cây như vậy. Để củ su hào nhân dân toàn miền Bắc nước ta ăn được to hơn, ngon hơn trước.” hay anh cán bộ nghiên cứu sét không dám đi đâu vì sợ khi có sét lại vắng mặt mình. Sự khiêm tốn đong đầy trong giọng văn thể hiện nên một hình ảnh rất đẹp về anh thanh niên. Hình ảnh anh thanh niên ngây thơ trả lại chiếc mùi xoa cho cô kĩ sư như làm đậm nét hơn sự thật thà chất phác của anh.

   Hình ảnh về anh cũng được khắc họa qua các nhân vật khác. Qua lời kể của bác lái xe, ta biết sơ lược về nhân vật này, về sự “thèm người” của anh. Ông họa sĩ già, từng trải khao khát tạo ra một kiệt tác cuối đời mình. Câu nói “Phải vẽ được cái gì suốt đời mình thích” của ông như làm rõ thêm điều đó. Ông nhìn ra ở anh những nét đẹp mộc mạc và giản đơn. Cũng chính vì thế mà ông đã chọn anh làm đối tượng cho kiệt tác của mình. Những suy nghĩ nội tâm sâu sắc của ông như làm sáng đẹp thêm hình ảnh anh thanh niên, khiến hình ảnh đó có có thêm chiều sâu tư tưởng. Về phần cô kĩ sư, sau khi trò chuyện cùng anh, cô đã nhận định đúng hơn về con đường mà mình đã chọn, về mối tình cũ nhạt nhẽo và thêm phần yên tâm hơn về quyết định của mình. Song, cô còn cảm thấy mình như nhận được thứ gì từ anh, không chỉ bó hoa to mà còn vì “Mà vì một bó hoa nào khác nữa, bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên anh cho thêm cô”.

Ngoài ra, hình ảnh cách nhân vật như anh bạn trên đỉnh Phan-xi-păng, ông bố, ông kĩ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên cứu sét đã vẽ thêm lên anh sự khiêm tốn, yêu nghề. Bản thân họ cũng là những hình ảnh vẽ đẹp về nhưng con người thầm lặng, hi sinh cho đất nước với câu “Trong cái lặng im của Sa Pa , dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước.” Nói tới Sa Pa, người ta sẽ nghĩ ngay đến tuyết, đến sự giá lạnh. Nhưng ngay từ đầu câu chuyện, tác giả đã bắt đầu qua hình ảnh nắng hừng hực lửa “đốt cháy cả rừng cây”, hay phía cuối với nắng “mạ bạc cả con đèo”, “làm cho bó hoa và cô gái cũng rực rỡ theo” như hàm ý rằng nơi đây đang được hâm nóng bởi ý chí chiến đấu trong công việc của bao con người.

  Với cách sắp xếp tình huống đầy hợp lí, tác giả khiến cho nhân vật chính như đẹp hơn về thể xác bên ngoài lẫn tâm hồn bên trong, qua các chi tiết và con mắt, sự đánh giá của các nhân vật phụ. Cách kể chuyện theo ngôi ba của tác giá thật tự nhiên, như nhập vào nhân vật ông họa sẽ để mô tả cảnh Sa Pa thật đẹp, cô kĩ sư đáng yêu, anh thanh niên đáng mến…. Ngoài ra, “Lặng lẽ Sa Pa” được tác giả xây dựng đậm chất trữ tình kết hợp tự sự và bình luận. Nhân vật anh thanh niên với tâm hồn phong phú, cô kĩ sư với nhiều tâm sự song cũng hồn nhiên và trẻ trung, ông họa sĩ yêu đời cùng khát vọng nghệ thuật cháy bỏng,… Hình ảnh anh thanh niên hái hoa, tặng hoa cho cô gái,… đậm chất thi ca. Và còn những triết lí như câu nói của ông họa sĩ “Buồn thì ai chả sợ? Nó như con gián gặm nhấm người ta? Tốt hơn là tránh nó để làm việc đời”, khiến người đọc có nhiều suy tưởng. Ta có thể thấy các nhân vật trong câu chuyện hoàn toàn không có cái tên chính xác, tất cả đều được gọi bằng những danh từ chung. Có lẽ qua tác phẩm, tác giả muốn cho người đọc hiểu rằng những nhân vật đáng quý này có thể là bất cứ ai mà ta lướt qua trong cuộc sống.

“Lặng lẽ Sa Pa” Một câu chuyện mang nhiều ý nghĩa sâu sắc về cuộc đời. Chính những điều tuyệt diệu ấy đã khiến “Lặng lẽ Sa Pa” trở thành một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi tác giả Nguyễn Thành Long. Những nhân vật trong câu chuyện khiến tôi liên tưởng đến những câu thơ:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
Họ như những mùa xuân nhỏ, lặng lẽ cống hiến cuộc đời mình cho đất nước. . Tác phẩm đã để lại trong lòng tôi, và có lẽ là cả nhiều bạn đọc khác, những khoảng lặng, rung động trước cái đẹp  không chỉ ở cảnh vật mà còn ở những con người Sa Pa, nguyện noi gương họ trở thành những công dân tốt để giúp sức cho Tổ quốc trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạị hóa đất nước.

Messie Huỳnh