Hiển thị các bài đăng có nhãn văn 9. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn 9. Hiển thị tất cả bài đăng

24 thg 5, 2013

so sánh hình tượng người lính giữa "Bài thơ tiểu đội xe không kính" và "Đồng chí"

Cảnh báo: bài viết hơi nghiêng về phía BTVTĐXKK nên mọi ng` cẩn thẩn khi dùng làm tài liệu
còn nhiều lỗi sai về chính tả, dùng từ và diễn đạt, nhưng tạm thời tớ chưa có thời gian sửa chữa hay dò kĩ lại, nếu ai đọc đc và tìm ra lỗi, hãy để lại lời nhắn, và tớ sẽ xem xét và sửa lỗi để đưa ra bài viết tốt nhất


    
 Đất nước Việt Nam ta với lịch sử nghìn năm chống giặc đã được ghi vào nền văn học nước nhà bằng rất nhiều tác phẩm tuyệt vời. Trong số đó có không ít tác phẩm viết về hình ảnh người lính qua nhiều thời kì bảo vệ tổ quốc. Mỗi tác giả một phong cách, nhưng tất cả họ đều để lại trong lòng người đọc nhiều hình ảnh đẹp về cái gian, cái khổ cũng như tinh thần bất khuất, quả cảm, yêu nước của người lính. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và “Đồng chí” của Chính Hữu có thể được xem là hai tác phẩm tiêu biểu cho thời kì chống Mĩ và chống Pháp. Cả hai đều có những điểm giống nhau về mặt ý nghĩa, song mỗi tác phẩm lại có cho mình chất rất riêng.

     “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” và “Đồng chí” đều phản ánh rất chân thực về hình ảnh người lính cách mạng trong công cuộc bảo vệ nước nhà. Bởi lẽ, cả hai tác giả Phạm Tiến Duật và Chính Hữu cùng là những người lính trẻ, tốt nghiệp xong đại học đã phải nhập ngũ, bỏ cả khát vọng và tương lai phía trước. “Tổ quốc lâm nguy thất phu hữu trách”.

     Cả hai bài thơ đều khởi đầu bằng hình ảnh người lính đầy mộc mạc với tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất, sẵng sang hi sinh vì tổ quốc thân yêu. Người xưa có câu: “Tổ quốc lâm nguy thất phu hữu trách”, phận làm trai sao có thể ngồi yên khi quê hương lâm vào cảnh lầm than. Ở “Đồng chí”, những người lính xuất thân từ nghề nông chân lấm tay bùn, với cuộc sống khó khăn nghèo đói “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”. Họ là nông dân, chân chất mộc mạc, nay vì tổ quốc lâm nguy mà tình nguyện đứng lên, bỏ “ruông nương”, “gian nhà” với cày cuốc, vốn là tài sản một đời của họ, lại phía sau để thay vào đó là khẩu súng anh hùng bảo vệ nước nhà, dấn thân vào cuộc đời chiến sĩ. Từ “gửi”, “mặc kệ” như nói lên lòng quyết tâm, khẳng định tinh thần của họ. Không xây dựng hình ảnh người nông dân áo lính như “Đồng chí” Chính Hữu, hình ảnh các chàng thanh niên trai trẻ đầy tri thức, tài năng, triển vọng cho tương lai phải từ bỏ giấc mơ để bước vào cuộc chiến được Phạm Tiến Duật miêu tả rất chân thực trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Với giọng thơ đậm chất khẩu ngữ, dí dỏm của mình, những chàng lính trẻ lái xe Trường Sơn hiện lên thật sống động trong lòng đọc giả.

    Tất nhiên, đã là chiến tranh thì ắt phải đau thương, khốc liệt. Cả hai bài thơ đều đã hoàn thành rất xuất sắc vai trò của mình trong việc truyền đạt sự tàn nhẫn, gian khổ ấy của cuộc đời cách mạng của người chiến sĩ. Khác với lối viết câu thơ như lời nói của Phạm Tiến Duật, với phong cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, viết ít hiểu nhiều, Chính Hữu đã cho ta thấy cuộc đời người lính thời kì đầu chống Pháp gian nan thế nào. Hình ảnh “áo… rách vai”, “quần.. có vài mảnh vá”, “chân không giày” nói lên sự thiếu thốn của cuộc sống lúc bấy giờ. Song, sự khó khăn còn to lớn hơn khi phải đối mặt với những cơn “sốt run người”của rừng đêm, bởi không cần phải ra ngoài mặt trận làm gì, họ vẫn có thể ra đi vì những căn bệnh mà lúc bấy giờ vẫn chưa có thuốc. Với Phạm Tiến Duật, thay vì diễn tả cái khó trong sinh hoạt của người lính như Chính Hữu, ông chọn cho mình cái thật hơn, sự khốc liệt của chiến tranh. Ngay ở cái tựa bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cũng đã nêu lên được cái khốc liệt đó. Ban đầu, chiếc xe nào cũng lành lặn, đầy đủ như nhau, nhưng qua ngày tháng “bom giậc bom rung” thì dù cho có là chiếc xe tốt nhất đi nữa thì vẫn phải hỏng. Không chỉ dừng lại ở kính, những chiếc xe trên đường Trường Sơn còn tồi tàn hơn với “không có đèn”, “không có mui xe”, “thùng xe có xước”. Tuy nhiên, đâu chỉ chiếc xe mới chịu đau chịu khó, chính những người lính ngồi trên chúng mới là những con người đáng quí hơn cả. Họ không chỉ phải lái những chiếc xe gần như hỏng kia, mà họ còn phải đối mặt với gió, mưa, bụi và bom của đường Trường Sơn nắng gió.

      Tuy chiến tranh khó khăn, tàn bạo là thế, những người lính vẫn luôn yêu đời, tình đồng chí đồng đội vẫn luôn tồn tại, là nguồn động lực, dộng viên tinh thần mỗi một người lính, được thể hiện rất rõ nét và chân thực ở cả hai bài thơ, gây cho người đọc nhiều xúc cảm sâu lắng. Qua giọng thơ dí dỏm của Phạm Tiến Duật, những cái khó ấy hóa lông hồng, nhẹ tênh trước sự yêu đời, lạc quan, ngang tàn và niềm tin chiến thắng của những người lính trẻ. Nếu có “gió” thì “xoa mắt đắng”, “bụi phun” thì cứ “phì phèo châm điếu thuốc”, “cười ha ha”, “mưa phun mưa xối” thì “gió lùa khô mau thôi”. Sự lạc quan thể hiện rõ nét nhất qua giọng điệu “cười ha ha” trước sự nguy hiểm. Nếu so sáng với “cười buốt giá” của “Đồng chí” thì nụ cười của những người lính lái xe Trường Sơn này thoải mái hơn, lạc quan hơn rất nhiều, dù hiện thực chiến tranh Mĩ nếu so ra có vẻ khốc liệt hơn cuộc chiến chống Pháp. Niềm tin, sự động viên của những người lính còn được truyền tới nhau qua những cái nắm tay đầy ý nghĩa. “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Những cái nắm tay chắc nịch, thân tình truyền nhau hơi ấm, tình yêu thương cũng như lời chúc phúc. Song, không như “Đồng chí”, cái bắt tay của “BTVTĐXKK” nhanh hơn rất nhiều, không chỉ truyền nhau niềm tin hi vọng, mà qua đó còn cho ta thấy sự tàn khốc của chiến tranh, mang theo niềm tin kia ra chiến trường mà vạn người đi không đường về. “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”. Trong chiến khu, mọi người là nhà, là anh em. Ở “Đồng chí”, những người lính là những người nông dân chân lấm tay bùn “tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”, là người xa lạ nhưng sau rốt lại gắn bó “thành đôi tri kỉ”, từ tri kỉ ý nói như bạn đời, như thân quen lắm. Bên cạnh “đôi tri kỉ” của Chính Hữu, Phạm Tiến Duật lại diễn tả sâu sắc hơn nữa tình đồng chí đồng đội của những người lính, “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. “Tri kỉ” sau rốt vẫn là bạn, nhưng “gia đình” lại là chung máu mủ, là ruột thịt huyết thống. Hình ảnh “chờ giặc tới” hay “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước” thể hiện nên một đức tính đẹp của người lính. Dù mỗi người lính một cá tính, thì khi đã là một người lính, họ đều giống nhau ở chỗ ai trong họ cũng là một con người quả cảm, ngoan cường, sống trong họ chính là niềm tin về một ngày mai tươi sáng. Từ “vẫn” như muốn nhấn mạnh sự quyết tâm của họ. “Chỉ cần trong xe có một trái tim”, câu thơ cuối cùng của “BTVTĐXKK” dù không có vần điệu với những câu thơ khác, song lại thể hiện rất mạnh mẽ niềm tin của người lính vào chiến thắng. Các sử dụng hình ảnh hoán dụ “trái tim” như làm đẹp hơn những người lính quả cảm giàu khát vọng hòa bình độc lập.

   Mặc dù hai bài thơ có cùng nét tương đồng về ý nghĩa nói lên hiện thực chiến tranh khốc liệt và nâng cao tình đồng đội, nhưng bên cạnh đó, cả hai đều có những nét đẹp đặc trưng cho riêng mình. Ngoài cái cơ bản khác nhau về những thứ như tựa đề hay tác giả, thì cả hai bài thơ còn được viết ở hai bối cảnh riêng biệt. Bài thơ “Đồng chí” được viết trong thời kháng chiến cống Pháp, còn “BTVTĐXKK” được khắc họa dưới bầu trời Trường Sơn bom đạn những năm nước ta kiên cường đánh Mĩ. Ngoài ra, cả hai bài thơ còn khác nhau ở phong cách văn ở mỗi tác giả. Như đã đề cập ở trên, với lối viết cô đọng hàm súc, lời ít ý nhiều, nhà thơ Chính Hữu đã cho ra đời “Đồng chí”. Còn với Phạm Tiến Duật, phong văn của ông mang tính khẩu ngữ, lời thơ tựa lời nói song vẫn đậm chất thơ, đã tạo nên một “BTVTĐXKK” mà chúng ta đang nói đến hôm nay. Về nội dung cả hai bài thơ, tuy giống nhau nhiều mặt nhưng nếu chú ý, ta có thể cảm nhận được rằng “Đồng chí” của Chính Hữu, giống như tựa đề, tập trung đề cao tình đồng đội anh em keo sơn gắn bó, còn với “BTVTĐXKK”, nhà thơ Phạm Tiến Duật lại đẩy mạnh cái gian khó của các chàng chiến sĩ lái xe Trường Sơn trong công cuộc bảo về nước nhà.


    Tuy có nhiều điểm giống nhau cũng như khác nhau nhưng cả hai bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “BTVTĐXKK” của Phạm Tiến Duật đều góp một phần không nhỏ trong việc làm phong phú hơn nền văn học nước nhà, đề cao tình đồng chí đồng đội và nhất là hình ảnh người lính qua cả hai thời kì. Hai tác phẩm cũng đã làm nên tên tuổi của nhà thơ Chính Hữu và Phạm Tiến Duật. Sau khi được đọc và cảm nhận, em nhận ra rằng mình nên trân trọng thời bình êm đềm ấm no mà bao ông cha đi trước hi sinh thân mình để thế hệ hôm nay có được. Cố gắng học thật giỏi, trở thành người công dân tốt để góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để sự hi sinh kia không phải là vô nghĩa.

Messie Huỳnh

6 thg 5, 2013

Tri ân




   Bốn năm, đó không phải là một quãng thời gian dài, nhưng cũng không thể nói là ngắn. Bốn năm, bốn mùa phượng. Tất cả chúng tôi bước vào ngôi trường này vào thời khắc phượng tàn, và giờ đây ra đi khi hoa phượng rực nở. Để có được ngày hôm nay, tự tin vươn ra những môi trường mới, đặt cho mình mục tiêu cao xa đâu chỉ nhờ sự cố gắng của riêng bản thân tôi mà còn rất nhiều, rất nhiều sự tận tâm dạy dỗ của các thầy các cô mà đời đời liệu tôi có thể đền đáp hết.
    Khi tôi đến đây lần đầu tiên, tôi như con hổ nhỏ chỉ vừa chập chững bước đầu mà tự tin ngạo mạn rằng ta đây là chúa tể muôn loài. Có lẽ vì tôi chỉ hiểu đơn giản rằng trường Chu Văn An là một ngôi trường giỏi và tôi là một trong số ít những bạn bè cũ có thể bước vào. Sau đó, tôi chợt nhận ra rằng mình chẳng là gì cả, bản thân trong lớp còn có rất nhiều bạn bè giỏi hơn tôi. Tuy nhiên đó chỉ là khởi điểm thôi, là trước khi những con hổ nhỏ chúng tôi học cách đi săn. Chính các thầy các cô đã chỉ bảo, hướng dẫn tận tình để tất cả chúng tôi có thể trở thành những con hổ dũng mãnh như ngày hôm nay. Lúc khởi đầu, khác với những lớp học trước kia, vào cấp hai tôi phải đối mặt với biết bao đổi thay. Còn đâu lớp học lặt vặt hai mươi mấy đứa học trò nữa, thay vào đó là căn phòng với hơn bốn mươi con hổ con, vừa có thể là bạn bè thân thiết như anh em, vừa trở thành đối thủ cạnh tranh nguy hiểm trong mỗi chuyến săn mồi. Nhưng đổi thay lớn nhất chính là khi tôi phải đối mặt với đâu chỉ một mà là hơn mười giáo viên bộ môn khác nhau. Thế mà chính các thầy cô đã giúp tôi quen dần và trở nên thoải mái hơn với sự thay đổi ấy. Bốn năm đi qua nhiều người, có những người thầy, người cô tôi chỉ học một lần hay một học kì, có người lại gắn bó suốt nhiều năm học. Song, tất cả đều để lại trong tôi một chút gì để nhớ, không chỉ về kiến thức mà còn cả tinh thần. “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” . Tôi không thể nói rằng bốn năm qua tôi yêu hết tất cả các giáo viên. Tất nhiên là con người, ai ai đều có trong mình từ “yêu” và “ghét”. Tôi cũng thế thôi, không thích người này nhưng lại yêu quí người kia. Tất nhiên trong suốt bốn năm học, tôi vẫn mắc lỗi với nhiều giáo viên và ngược lại, tôi cũng không vừa ý với nhiều người. Thế nhưng tôi chưa bao giờ thật sự dùng từ “ghét bỏ” cho bất kì người thầy người cô mà tôi đã học. Tôi không biết với các bạn khác như thế nào nhưng tôi thì như vậy đấy. Suy cho cùng, tôi cũng nhận được ít nhiều từ họ. Các thầy các cô đâu chỉ rèn luyện cho tôi về mặt kiến thức mà còn về kỉ luật, nhân cách, trách nhiệm, giúp tôi chuẩn bị cho bản thân mọi điều cần có cho tương lai, hành trang tiến bước vào đời.
   Lớp tôi tuy mang cái danh là lớp giỏi nhưng cũng có không ít những cái trò ngốc nghếch đến dại dột, với nhau và với cả các thầy cô, tất nhiên đa phần là từ cái ý thức “yêu và ghét” kia. Lớp tôi, cùng nhau, đã làm nên nhiều trò tai quái với nhiều giáo viên. Tuy những lần ấy tôi đều đứng ngoài cuộc, nhưng tôi tất nhiên vẫn không thể nhịn được cười và lại hòa vào cùng với bạn bè. Giờ nghĩ lại cũng thật trẻ con, có xin lỗi chắc cũng chẳng bao giờ xóa hết được lỗi lầm đã phạm phải. Cũng có những lúc chúng tôi phạm lỗi vì cái vô tâm và vô lo của mình. Một trong những kỉ niệm mà có lẽ tôi chẳng bao giờ quên được là khi lớp tôi ăn vụng tập thể và bị ghi tên, cô chủ nhiệm khi ấy giận ghê lắm. Cô chỉ nói vài câu, không thuyết giáo gì nhiều nhưng những lời cô nói sẽ mãi mãi in đậm trong chúng tôi. “Miếng ăn là miếng nhục”. Câu thành ngữ mà trước đây đối với chúng tôi chẳng là gì, nhưng qua lời cô, bây giờ lại trở nên nặng như chì, nhắc lại vẫn thấy rùng mình. Từ đó, cô đã để lại trong chúng tôi bài học quí báu về trách nhiệm và những cái tôi cần được tôn trọng. Sau tất cả, cái tôi khâm phục nhất ở các thầy cô chính là tấm lòng bao dung vị tha. Dù cho chúng tôi có phạm lỗi, các thầy cô vẫn công tư phân minh trong việc giảng giải bài học và chấm điểm. Bên cạnh đó, thầy cô luôn rộng lòng lắng nghe và tha thứ, chỉ cần chúng tôi biết nhận lỗi, có ý sửa đổi thôi. Tuy nhiên, cái khó chính là ở chúng tôi, những kẻ quá tự trọng và hèn nhát, để có thể mở lời xin lỗi. Trong khoảng thời gian học ở trường, tôi nhớ có lần mình nói rằng bản thân sẽ không để bất kì điểm thi môn nào dưới tám. Bạn bè tôi đã cười rần, cho rằng tôi quá ngạo mạn, trèo cao té đau. Có phải thế không? Tôi lại không nghĩ vậy. Tôi cam đoan điều đó bởi lẽ tôi hiểu rất rõ sức học của mình, và hơn hết thảy là những gì các thầy cô đã truyền đạt lại cho tôi, giúp tôi dễ dàng nắm vững kiến thức để có thể tự tin nói lên những lời ấy.  Kết quả của tôi hiển nhiên còn cao hơn mục tiêu mà tôi đặt ra, chứng minh rằng tôi không phải là một cái “thùng rỗng kêu to”, và mặt khác không phụ lại sự cố gắng chỉ dạy từ các thầy cô.
   Nghề giáo nói cho cùng cũng như người lái đò mà thôi. Họ đưa những vị khách như tôi qua bến bên kia của biển học mênh mông, rồi lại trở về bến cũ, bắt đầu lại chuyến đò mới mà không hề đòi hỏi sự nhớ ơn hay đền đáp. Có mấy ai đi qua rồi nhớ đến họ đâu, cho dù là khách quen thì chỉ trở lại dăm ba lần rồi cũng mất hút. Tại sao cái nghề bạc bẽo mà cơ cực thế các thầy các cô vẫn chọn lấy, dành cuộc đời mình để dạy dỗ thế hệ trẻ mai sau nên người. Có chăng chính các thầy các cô cũng giống như những nhân vật trong các tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”, “Những ngôi sao xa xôi”, “Mùa xuân nho nhỏ” mà tôi đã học, là những mùa xuân nhỏ, lặng lẽ cống hiến đời mình cho những điều tốt đẹp hơn, cho tương lai Tổ quốc.
   Thời khắc ra đi, tôi chẳng còn biết nói gì hơn là hàng vạn lời cảm ơn chân thành gửi đến các thầy cô, và nhiều hơn nữa câu xin lỗi, cho những lần lầm lỡ ngây dại. Dù mai sau tôi có trở về trường hay đi tiếp, tôi vẫn mãi mãi ghi nhớ công ơn dạy dỗ của các thầy cô. Và tôi sẽ luôn cố gắng phấn đấu cho mai sau, để khi có dịp, dù cho đó là tình cờ, gặp lại, tôi có thể ngẩng cao đầu mà nói tôi là người thành đạt, là công dân tốt bằng tất cả những gì mà các thầy các cô đã chỉ dạy năm xưa, rằng tôi là người học trò đáng tự hào của họ.
Hạ Vũ

13 thg 3, 2013

Nghị luận "Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải


Thanh Hải, với phong cách thơ bình dị, đôn hậu, nhẹ nhàng của mình đã để lại cho nền thi ca Việt Nam không ít tác phẩm. Vào những ngày tháng cuối cùng của đời mình, ông vẫn không dừng bút, tiếp tục truyền đạt lại niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và cả nhứng ước nguyện của mình qua “Mùa xuân nho nhỏ”. Hồn thơ đầy tươi trẻ, thanh thản, "Mùa xuân nho nhỏ" không hề gợn lại một chút u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt.

“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”

Khổ thơ đầu bài thơ đã vẽ nên trong lòng người đọc một mùa xuân xứ Huế êm đềm thể hiện trọn vẹn cảm xúc, sự say sưa ngây ngất của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời. Không nhộn nhịp nhiều sắc màu rực rỡ như mùa xuân của nhiều tác giả, mùa xuân của Thanh Hải đã bắt đầu với hai gam màu lạnh, tím và xanh, đầy nhẹ nhàng, trầm lắng. Màu tím, màu của xứ Huế, khiến người ta nghĩ ngay đến màu tím của tà áo dài của những cô gái Huế, màu tím của hoa sim giữa con sông xanh biếc. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng. Từ “ơi” được đặt ở đầu câu cùng từ “chi” như đưa cách gọi đầy thiết tha, nhỏ nhẹ và yêu thương của xứ Huế vào nhạc điệu bài thơ. Bên cạnh đó, ta có thể thấy có sự chuyển đổi các giác quan từ thính giác, nghe thấy chim chiền chiện “hót” “vang trời” báo hiệu mùa xuân, sang thị giác, thấy “từng giọt” “rơi”, cho đến xúc giác, đưa tay ra “hứng” . Bên cạnh đó “giọt long lanh” ở đây không chỉ được hiểu là giọt mưa mùa xuân mà còn là giọt âm thanh, giọt sắc màu con chim chiền chiện thả vào đất trời, là giọt thời gian khiến tác giả ngây ngất. Từ đó, ta có thể thấy sự trân trọng của tác giả đối với đất trời, dòng sông và chim hoa muông lá qua hành động “hứng” đầy nhẹ nhàng, nâng niu. Giữa các dòng thơ hầu như không có hiệp vần ( trừ ơi và trời) nhưng vẫn đủ khiến cho người đọc say mê do hài hòa âm điệu giữa các tiếng, điều mà có lẽ chỉ bắt gặp trong thơ ca đương đại.

Từ mùa xuân thiên nhiên, tác giả chuyển sang cảm nhận về mùa xuân cuộc sống, đất nước, con người.
“Mùa xuân người cầm sung
Lộc giắt đầy trên  lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải đầy nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao…”
Hình ảnh mùa xuân như đọng lại trong lộc non, theo chân những người lính ra chiến trường bảo vệ tổ quốc, theo chân các bác nông dân ra đồng, hay chăng chính những con người này mang lại mùa xuân cho đất nước. Cách sử dụng điệp ngữ “tất cả” cũng như từ láy gợi tả “hối hả”, “xôn xao” và phép so sánh “như” làm cho giọng thơ trở nên dồn dập, khẩn trương hơn. Phải chăng dấu ba chấm ở cuối khổ thơ như muốn thể hiện sự dồn dập, khẩn trương này sẽ kéo dài mãi, là nhịp điệu lao động của nhân dân lúc bấy giờ trong công cuộc xây dựng lại đất nước, vươn lên tầm cao mới mà không có sự dừng lại, nghỉ ngơi. Hình ảnh này thậm chí còn được thể hiện rõ nét hơn nữa qua hai câu thơ:
“Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
Hình ảnh so sánh “vì sao” đầy đặc sắc, thú vị. Ta có thể thấy rằng những ngôi sao ở rất rất xa, tượng trưng cho việc tồn tại mãi mãi, vĩnh hằng. Ở đây, tác giả ví đất nước như vì sao luôn tồn tại và luôn cố gắng vươn lên, cao hơn, xa hơn nữa, trở thành một thiên thể giữa nền trời nhân loại, rực sáng trên thế giới. Nếu để ý, ở đây, tác giả còn sử dụng phụ từ “cứ” để nhấn mạnh, khẳng định thêm hình ảnh đất nước “đi lên phía trước” Tất cả các hình ảnh trên như thể hiện một đất nước tràn ngập sức xuân và niềm tin vào một tương lai tươi sáng.

Sau tất cả, những dòng thơ còn lại như đang thể hiện những suy nghĩ, tâm niệm của nhà thơ Thanh Hải.
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.”
Nếu ở đoạn đầu, nhà thơ xưng hô “tôi” một cách kín đáo thì ở đây, ông lại dùng từ “ta”. Tại sao lại có sự thay đổi này? Bởi vì, ta có thể hiểu rằng “ta” ở đây không chỉ là nhà thơ mà còn là tất cả mọi người cùng chung khát vọng cống hiến cho mùa xuân đất nước. Bởi có lẽ bất kì ai trong chúng ta đều khát khao trở thành một điều gì đó có ích cho cuộc sống. nhà thơ khao khát được trở thành tiếng chim vui chào đón xuân về, được trở trành một cành hoa góp vào mùa xuân đất nước, được trở thành một nốt nhạc trong bản hòa ca bất tận của cuộc đời. Tác giả đã sử dụng điệp ngữ “ta làm” như một lời hứa, lời khẳng định chắc nịch về ý niệm cống hiến của mình. 
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
Song, Thanh Hải còn thể hiện sự khiêm tốn cũng như cống hiến có ích cả cuộc đời mình cho đất nước. Không chỉ riêng ông mà còn nhiều người đang là những “mùa xuân nho nhỏ”, lặng lẽ làm việc quên mình vì tổ quốc, cho đi cả cuộc đời, từ “ tuổi hai mươi” cho đến “khi tóc bạc”. Họ chính là “những mùa xuân nhỏ”, cùng nhau tạo nên một “mùa xuân lớn” ấm no, hạnh phúc cho đất nước.

“Mùa xuân - ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.”
Dù đi xa thế nào thì vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời, người ta cũng sẽ nhớ về quê hương. Tác giả cũng vậy. Với giọng thơ đầy thiết tha chân thành, qua điệu Nam ai, Nam bình mênh mang da diết, tác giả đã trở về với mảnh đất Huế thân thương. Tác giả như muốn ôm trọn cả quê hương vào lòng, thể hiện niềm tin yêu và gắn bó đầy sâu nặng. Tác giả mở đầu bài thơ với hình ảnh đất Huế bông hoa tím giữa dòng sông xanh và cũng kết bài thơ với câu thơ “nhịp phách tiền đất Huế”. Qua đó, tình yêu quê hương của tác giả như trở thành một khúc ca trường tồn bất diệt, cho ta thấy tình yêu ân nghĩa thủy chung của ông đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

“Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải như là sự đúc kết của cả cuộc đời ông, thể hiện tình yêu quê hương, cuộc sống thiết tha, và ước vọng cống hiến của mình. Bằng sự tha thiết trong giọng thơ cùng nhiều nghệ thuật đặc sắc, “Mùa xuân nho nhỏ” đã góp phần làm nên tên tuổi của tác giả. Bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc và cũng trở thành một ca khúc không kém phần nổi tiếng. “Mùa xuân nho nhỏ” chính là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dành cho cuộc đời này. Qua đó, tôi thêm phần biết ơn nhiều thế hệ, biết ơn sự cống hiến lặng thầm kia và sẽ cố gắng để có thể tự hào rằng bản thân mình cũng đang cống hiến thật nhiều cho đất nước, dù là những điều nhỏ nhặt thôi.

Messie Huỳnh

1 thg 3, 2013

Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" - Nguyễn Thành Long


   Nguyễn Thành Long tuy là một cây bút chuyên về truyện ngắn và kí nhưng vẻ đẹp nghệ thuật của ông không nằm ở những phát hiện sắc sảo, sự táo bạo, kịch tính mạnh mẽ trong tác phẩm. Vẻ đẹp ấy đến từ sự dịu dàng đậm chất thơ, sâu lắng và trầm lặng như tiếng chuông ngân dài trong tim tôi cũng như người đọc, để lại những khoảng lặng, những cảm xúc khó nói thành lời. Tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” như một minh chứng tiêu biểu cho phong cách văn của ông. Tác phẩm được viết qua một chuyến thực tế Lào Cai của tác giả, kể về một vùng đất thầm lặng và đã khắc họa thành công hình ảnh những con người đang làm việc quên mình để cống hiến cho đất nước, được thể hiện rõ nét nhất qua hình ảnh nhân vật anh thanh niên.

   Cốt truyện về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa một họa sĩ già đến với Sa Pa để tìm tác phẩm để đời của bản thân, một cô kĩ sư trẻ vừa ra trường đi nhận công tác và một anh thanh niên đang làm việc trên đỉnh Yên Sơn. Tuy các nhân vật có khác nhau về tuổi trác, nghề nghiệp nhưng ai trong họ cũng có chung một thái độ sống, lao động và cống hiến hết mình cho Tổ quốc, một cách vô tư hồn, nhiên âm và thầm lặng lẽ. Với cốt truyện đơn giản, tác giả đã xây dựng và làm rõ nét hơn những sự cống hiến ấy.

   Nhân vật anh thanh niên ở tuổi đời hai mươi bảy tươi đẹp rời bỏ chốn phồn hoa đô hội để đến với một Sa Pa lặng lẽ buồn tênh. Ngay ở cái tựa của tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” như phần nào diễn tả cái lặng lẽ đến đáng sợ ở nơi này. Đó là cái lặng lẽ của đỉnh núi Yên Sơn “cao hai nghìn sáu trăm mét”, “bốn bề chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo”. Lặng lẽ ở đây như chỉ về sự cô độc của anh thanh niên một mình với “công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu”, “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”, là “người cô độc nhất thế gian”- theo như lời bác lái xe, “thèm người” đến mức phải đẩy cây ngáng đường chỉ để xe dừng lại nói chuyện một lát. Rồi cái lặng lẽ này còn là cái lặng lẽ lúc nửa đêm, khi đến giờ “ốp”, “ghi và báo về lúc một giờ sang”, một mình anh “Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ”. Lặng lẽ là thế, cô đơn là thế, anh vẫn chấp nhận và thậm chí là hạnh phúc với công việc của mình, điều mà không phải ai cũng có. Anh bảo ảnh nào có cô đơn   “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?”, “ lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà” Anh cũng khát khao được hi sinh cho Tổ quốc đấy, được cầm sung ra trận khi cùng bố nộp đơn đi lính, nhưng giờ đây anh lại hạnh phúc với những gì mình đang có bởi anh hiểu mình cũng đang góp phần bảo vệ nước nhà, nhất là khi biết nhờ mình phát hiện đám mấy khô mà “không quân ta hạ đựơc bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng” . Điều đó cùng những chi tiết trên cho ta thấy lòng yêu nước,  nghề sâu sắc, sự cần cù, đam mê và cống hiến cho nghề cũng như trách nhiệm của anh với công việc gian khổ.

   Những tính các cao đẹp của anh không chỉ dừng lại ở đó mà còn nằm ở lòng nhân hậu, sự khiêm tốn, lễ phép, đơn giản mà chất phác trong anh. Anh đã tự tạo cho mình thú vui nơi vắng vẻ như trông hoa nuôi gà. Sự đơn giản của anh được thể hiện qua chi tiết “Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời anh thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách”. Thế giới riêng của anh đấy, chỉ vỏn vẹn như thế mà thôi. Hành động tặng củ tam thất cho vợ bác lái xe, trứng và hoa cho ông họa sĩ và cô kĩ sư đã phần nào chỉ ra sự hiền lành, quan tâm mọi người của anh. Rồi khi ông họa sĩ có ý muốn vẽ anh, anh dù từ chối nhưng vẫn ngồi yên, thể hiện sự lễ phép, tôn trọng của anh đối với ông. Anh bắt đầu gợi ý cho ông họa sĩ những người khác mà anh cho là thích hợp hơn anh để vẽ như ông kĩ sư vườn rau “Ngày này sang ngày khác ông ngồi im trong vườn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào. Rồi, để được theo ý mình, tự ông cầm một chiếc que, mỗi ngày chín mười giờ sáng, lúc hoa tung cánh, đi từng cây su hào làm thay cho ong. Hàng vạn cây như vậy. Để củ su hào nhân dân toàn miền Bắc nước ta ăn được to hơn, ngon hơn trước.” hay anh cán bộ nghiên cứu sét không dám đi đâu vì sợ khi có sét lại vắng mặt mình. Sự khiêm tốn đong đầy trong giọng văn thể hiện nên một hình ảnh rất đẹp về anh thanh niên. Hình ảnh anh thanh niên ngây thơ trả lại chiếc mùi xoa cho cô kĩ sư như làm đậm nét hơn sự thật thà chất phác của anh.

   Hình ảnh về anh cũng được khắc họa qua các nhân vật khác. Qua lời kể của bác lái xe, ta biết sơ lược về nhân vật này, về sự “thèm người” của anh. Ông họa sĩ già, từng trải khao khát tạo ra một kiệt tác cuối đời mình. Câu nói “Phải vẽ được cái gì suốt đời mình thích” của ông như làm rõ thêm điều đó. Ông nhìn ra ở anh những nét đẹp mộc mạc và giản đơn. Cũng chính vì thế mà ông đã chọn anh làm đối tượng cho kiệt tác của mình. Những suy nghĩ nội tâm sâu sắc của ông như làm sáng đẹp thêm hình ảnh anh thanh niên, khiến hình ảnh đó có có thêm chiều sâu tư tưởng. Về phần cô kĩ sư, sau khi trò chuyện cùng anh, cô đã nhận định đúng hơn về con đường mà mình đã chọn, về mối tình cũ nhạt nhẽo và thêm phần yên tâm hơn về quyết định của mình. Song, cô còn cảm thấy mình như nhận được thứ gì từ anh, không chỉ bó hoa to mà còn vì “Mà vì một bó hoa nào khác nữa, bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên anh cho thêm cô”.

Ngoài ra, hình ảnh cách nhân vật như anh bạn trên đỉnh Phan-xi-păng, ông bố, ông kĩ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên cứu sét đã vẽ thêm lên anh sự khiêm tốn, yêu nghề. Bản thân họ cũng là những hình ảnh vẽ đẹp về nhưng con người thầm lặng, hi sinh cho đất nước với câu “Trong cái lặng im của Sa Pa , dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước.” Nói tới Sa Pa, người ta sẽ nghĩ ngay đến tuyết, đến sự giá lạnh. Nhưng ngay từ đầu câu chuyện, tác giả đã bắt đầu qua hình ảnh nắng hừng hực lửa “đốt cháy cả rừng cây”, hay phía cuối với nắng “mạ bạc cả con đèo”, “làm cho bó hoa và cô gái cũng rực rỡ theo” như hàm ý rằng nơi đây đang được hâm nóng bởi ý chí chiến đấu trong công việc của bao con người.

  Với cách sắp xếp tình huống đầy hợp lí, tác giả khiến cho nhân vật chính như đẹp hơn về thể xác bên ngoài lẫn tâm hồn bên trong, qua các chi tiết và con mắt, sự đánh giá của các nhân vật phụ. Cách kể chuyện theo ngôi ba của tác giá thật tự nhiên, như nhập vào nhân vật ông họa sẽ để mô tả cảnh Sa Pa thật đẹp, cô kĩ sư đáng yêu, anh thanh niên đáng mến…. Ngoài ra, “Lặng lẽ Sa Pa” được tác giả xây dựng đậm chất trữ tình kết hợp tự sự và bình luận. Nhân vật anh thanh niên với tâm hồn phong phú, cô kĩ sư với nhiều tâm sự song cũng hồn nhiên và trẻ trung, ông họa sĩ yêu đời cùng khát vọng nghệ thuật cháy bỏng,… Hình ảnh anh thanh niên hái hoa, tặng hoa cho cô gái,… đậm chất thi ca. Và còn những triết lí như câu nói của ông họa sĩ “Buồn thì ai chả sợ? Nó như con gián gặm nhấm người ta? Tốt hơn là tránh nó để làm việc đời”, khiến người đọc có nhiều suy tưởng. Ta có thể thấy các nhân vật trong câu chuyện hoàn toàn không có cái tên chính xác, tất cả đều được gọi bằng những danh từ chung. Có lẽ qua tác phẩm, tác giả muốn cho người đọc hiểu rằng những nhân vật đáng quý này có thể là bất cứ ai mà ta lướt qua trong cuộc sống.

“Lặng lẽ Sa Pa” Một câu chuyện mang nhiều ý nghĩa sâu sắc về cuộc đời. Chính những điều tuyệt diệu ấy đã khiến “Lặng lẽ Sa Pa” trở thành một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi tác giả Nguyễn Thành Long. Những nhân vật trong câu chuyện khiến tôi liên tưởng đến những câu thơ:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
Họ như những mùa xuân nhỏ, lặng lẽ cống hiến cuộc đời mình cho đất nước. . Tác phẩm đã để lại trong lòng tôi, và có lẽ là cả nhiều bạn đọc khác, những khoảng lặng, rung động trước cái đẹp  không chỉ ở cảnh vật mà còn ở những con người Sa Pa, nguyện noi gương họ trở thành những công dân tốt để giúp sức cho Tổ quốc trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạị hóa đất nước.

Messie Huỳnh

24 thg 1, 2013

Xả rác- hành vi hủy hoại cuộc sống


Xả rác- hành vi hủy hoại cuộc sống

   Cuộc sống hiện nay đang tồn tại nhiều vấn đề cấp bách cần được xử lí triệt để. Trong số đó, vấn đề về môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của thế giới và hiện tượng xả rác chính là vấn đề bức bách nhất.

   Biểu hiện của hiện tượng  xả rác rất đa dạng. Ăn xong một que kem hay thanh kẹo, xé xong một bao nilông hay gói bánh, người ta không ngần ngại mà vứt xuống đất. Uống xong một lon nước ngọt hay chai nước suối, người ta lại tiện tay quăng ngay xuống sông. Ngồi trên ghế đá công viên ăn một ly mì nóng, người ta thậm chí còn để luôn cả ly mì trên ghế, chẳng buồn vứt đi dù thùng rác cách họ chỉ vài bước chân. Bản thân những người lưu thông trên đường vẫn có thói quen vứt rác xuống lòng đường. nào có ai trong số họ thấy hổ thẹn với hành vi của mình. Có một số người nhai xong một tép kẹo cao su thì tiện tay dính nó lên ghế bản thân đang ngồi rồi bỏ đi. Một biểu hiện phổ biến khác là các tài xế chở gạch đá thừa từ các công trình thường đổ chúng ra đường vắng hay bờ sông. Một số hàng quán bên đường sẵng tay đổ các loại nước rửa, thức ăn dư thừa xuống cống gây tắc nghẽn và mùi khó chịu. Một số hộ gia đình vì lo sợ tốn tiền xử lí rác mà vứt các bao rác sinh hoạt xuống con sông gần nhà, gây ô nhiễm nguồn nước. Giờ đây, dù đường lớn hay hẻm nhỏ, từ nơi công cộng đến chỗ riêng tư, ta đều có thể bắt gặp rác.

    Tất cả các nguyên nhân đều bắt đầu từ thói chay lười và sự thiếu ý thức của người dân hiện nay. Ai ai cũng cho rằng vứt một bao thuốc lá hay một chai nước rỗng cũng chẳng gây hại gì. Con người ta vì lười biếng làm cho mờ mắt, chỉ biết thấy cái lợi trước mắt mà quên đi cái lợi cho tập thể hay lợi ích trong tương lai xa. Đừng nghĩ rằng hành vi này chỉ tồn tại ở những người vô học mà kể cả học sinh, sinh viên, công nhân viên- những con người có học thức- đều là thủ phạm của hành vi giết hại môi trường này. Nhìn đâu cho xa, cứ quan sát sân trường trước và sau giờ chơi sẽ thấy. Sân trường trước giờ chơi khang trang sạch sẽ bao nhiêu thì sau giờ chơi lại nhơ nhuốc bẩn thiểu bấy nhiêu. Các gói bánh kẹo rải rác khắp nơi, ly mì thì nằm ngổn ngang trên các ghế đá, thậm chí có ly đỗ cả phần mì chưa ăn hết ra bàn trông thận dơ bẩn. Điều này thật khiến cho các giáo viên cũng như các cô vệ sinh đau đầu. Hay như trường hợp các sinh viên, họ phát tờ rơi quảng cáo khiến khắp các đoạn đường rải rác giấy, làm công việc dọn đường của nhiều người vốn đã khó nhọc nay còn cơ cực hơn. Phải chăng việc dọn dẹp sạch sẽ ngăn nắp nhà cửa thì không sao còn ra đường thì cứ việc bạ đâu quăng đấy. Nhiều người trông thấy những chiếc xe hơi đầy sang trọng đắt tiền mở vẫn thản nhiên mở cửa sổ xe và xả rác xuống lòng đường liền tỏ ra chê bai nhưng suy xét lại thì chẳng ai hơn ai cả. Một lí do khác chính là nhà nước vẫ chưa mạnh tay xửa lí vấn đề này. Ở một số nước trên thế giới, người ta rất xem trọng việc giữ vệ sinh môi trường và sẵng sàng phạt tiền những người có hành vi gây ô nhiễm. Bên cạnh đó, công dân các quốc gia này cũng được giáo dục rất kĩ về việc giữ vệ sinh. Đang buồn thay, tại Việt Nam, tất cả cũng chỉ dừng lại ở việc kêu gọi, không hề có hình phạt hay bất kì sự răn đe nào. Hãy nhìn nước ta vài năm trước, có mấy ai đội nón bảo hiểm như hiện nay. Nhưng từ khi nhà nước đưa ra luật và xử phạt về việc đội nón bảo hiểm khi lưu thông cho người điều khiển xe gắn máy thì đội nón khi ra đường đã trở thành một nếp sống của người dân Việt Nam. Ngoài ra, việc xử lí rác chưa được thực hiện tốt , người phụ trách việc xử lí thiếu trách nhiệm cũng như những con người làm nghề dọn dẹp vệ sinh vẫn còn thiếu sự thiếu tôn trọng cũng là các lí do gây ra hiện tường xả rác.

    Về tác hại, chỉ cần chú ý đôi chút thì ai cũng có thể nhận ra hành vi tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy đã ảnh hưởng đến cuộc sống như thế nào. Đầu tiên, xả rác ảnh hưởng trực tiếp đến mĩ quan đô thị. Có những  nơi để bảng khu phố văn hóa nhưng vẫn có cỏ dại um tùm, rác rến ngổn ngang. Các công viên, bờ sông vốn là nơi thư giản, tập thể dục của nhiều ông bà cô bác nay đầy rác thải, dòng sông đen ngòm với hình ảnh rác trôi lềnh bềnh cùng mùi hôi thối bốc lên nồng nặc khiến chẳng ai muốn đến. Nước ta đang trên đà phát triển và được nhiều quốc gia biết đến. Điều đó giúp nước ta hằng năm đón một lượng du khách khổng lồ đến tham quan giải trí, biến ngàng du lịch trở thành một trong các ngành kinh tế không thể thiếu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có lần, một du khách đã tỏ ra ngạc nhiên và hỏi tôi tại sao người Việt Nam có thể vô tư quăng rác xuống đường dù thùng rác nằm ngay bên cạnh khiến tôi chỉ cười mà chẳng biết phải giải thích như thế nào. Thật đáng xấu hổ! Thử hỏi có ai dám đến Việt Nam để vui chơi trên một bãi biển đầy rác, hay đến một nơi như thế này để hợp tác đầu tư phát triển. Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, các ngành kinh tế nước ta rồi sẽ đi về đâu. Đâu chỉ vậy, việc xả rác còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Môi trường hôi thối và ô nhiễm nguồn nước đã góp phần gây ra các bệnh về đường ruột. Những hàng quán ven đường cạnh những bãi rác chính là điều kiện thuận lợi cho giun sán phát triển.  Các bãi rác chính là nơi lí tưởng cho ruồi muỗi phát triển, gây ra các bệnh như sốt xuất huyết, sốt rét. Có một thời kì, do gà vịt chết mà người ta ngại gọi cơ quan pháp y xử lí mà tiện tay quăng xác xuống sông, khiến đại dịch H5N1 bùng nổ tràn lan. Một số người tìm cách xử lí rác nhưng không đúng cách, đốt các loại rác khiến khói độc lan tràn gây ôn nhiễm không khí và các bệnh đường hô hấp. Tệ hơn, một số gia đình sinh sống trên các con sông thường đổ các loại nước thải, rác thải sinh hoạt và cả việc tiểu tiện xuống dòng sông phía dưới nơi mình sống, rồi lại lấy chính nguồn nước đó để sinh hoạt, tắm rửa giặt giũ và cả nấu ăn. Hành vi xả rác còn làm tiêu hao rất nhiều tiền của cũng như thời gian quí báu. Xả thì dễ, gom thì khó. Hãy tưởng tượng một nhóm trực lớp đã phải mất đến mười lăm phút chỉ để quét rác khỏi lớp học chứ chưa kể đến việc lau bảng thay vì khoảng thời gian dư ấy đủ để cho các học sinh ôn lại bài. Tuy nhiên, một số học sinh khác lại cho rằng những người này thật rãnh vì quét rồi thì lại có người xả thôi nên tốt nhất là không cần quét. Điều này khiến cho lớp học ngày càng dơ bẩn và thật khó khăn cho cả thầy cô và học sinh để có thể học tập trong một môi trường như thế. Việc xả rác bừa bãi cũng khiến việc phân loại và xửa lí rác trở nên khó khăn hơn. Các túi nilông được làm từ nhựa đầy độc hại không bao giờ phân hủy gây tắc nghẽn các cống nước, tiêu tốn thời gian và tiền của sửa chữa.

   Nếu có ai xem bộ phim Wall-E sẽ thấy hãi hùng trước giả thuyết của bộ phim này. Tuy là phim hoạt hình nhưng bộ phim cũng đã phần nào truyền tải thông điệp về môi trường cho người xem, khiến người lớn giật mình và trẻ nhỏ có ý thức hơn trước viễn cảnh trái đất bảy trăm năm sau chỉ còn là một bãi rác khổng lồ, mất đi sự sống. Xin đừng để trái đất một ngày kia trở nên như thế. Người ta vẫn hay đổ lỗi cho người khác, nhưng hãy nhìn lại chính mình xem, bạn đúng bao nhiêu phần trăm trong những hành vi trên. Nếu hỏi thì ai ai cũng cho rằng đây là việc xấu, nhưng có mấy ai làm tốt đâu. Người lớn làm gương, trẻ nhỏ bắt chước, hành vi xả rác đã trở thành một thói quen khó bỏ của người Việt. Thay vì xả rác, hãy bỏ rác vào thùng để góp phần làm xanh thế giới. Những túi nilông còn xài được thì cứ giữ lại, đừng vứt lung tung. Nếu thấy không cần thiết, hãy mang túi xách của bản thân và từ chối nhận túi nilông khi đi mua sắm. Tái sử dụng, tái chế những thứ bỏ đi để hạn chế lượng rác thải.  Hãy làm gương cho trẻ nhỏ để thế hệ sau ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường. Tổ chức và tham gia các câu lạc bộ vì môi trường xanh, đi dọn dẹp các bờ sông, công viên hay đơn giản là khu phố mình ở và kêu gọi mọi người cùng chung tay thực hiện. Tuyên truyền, vận động và nâng cao ý thức người dân về tác hại của việc xả rác và và tầm quan trọng của môi trường xanh. Ngoài ra, cơ quan nhà nước cần mạnh tay hơn và có giải pháp trong việc xử lí triệt để hiện tượng xả rác. Đây chỉ là một số ít giải pháp để giúp đỡ phần nào thực trạng hiện nay.

    Hiện tượng xả rác hiện nay vẫn đang là đề tài nóng hổi của toàn thế giới. Một quốc gia, một con người muốn phát triển thì điều kiện tiên quyết chính là môi trường. Hãy bảo vệ môi trường, loại bỏ hiện tượng xả rác, tự nghĩ ra các giải pháp và hành động ngay để bảo vệ màu xanh của trái đất, để sống an toàn và chất lượng cuộc sống của mọi người cũng như chính bạn được nâng cao. Nhặt rác bỏ vào thùng rác chính là hành động của một người có văn hóa.

Messie Huỳnh