Hiển thị các bài đăng có nhãn phân tích thơ 10. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phân tích thơ 10. Hiển thị tất cả bài đăng

9 thg 12, 2013

Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi

Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi

    Trong tất cả các nhà thơ trung đại, Nguyễn Trãi có lẽ là vị thi nhân có cuộc đời thăng trầm nhất, khi mà cả hạnh phúc lẫn khổ đau đều được đẩy lên đến đỉnh điểm. Nhưng không ai có thể phủ nhận tài năng của ông, một nhà thơ kiệt suất đã để lại những đóng góp to lớn cho kho tàng thơ ca Việt Nam, thậm chí còn là người đặt nền móng và mở đường cho sự phát triển của thơ tiếng Việt – thơ Nôm. “Cảnh ngày hè” chính là bài thơ tiêu biểu cho tài năng cũng như thể hiện đậm nét phong cách cùng suy nghĩ rất riêng của Nguyễn Trãi.

     Từ những bão táp cuộc đời mình, thơ Nguyễn Trãi mang phong cách và tư tưởng rất riêng. Thơ ông thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc đời đầy phức tạp cùng tình cảm nhân hậu và chân thành đối với đất nước, con người. Qua thơ, ta còn có thể thấy ở Nguyễn Trãi tâm tư u uất cùng khát vọng lớn lao của với đất nước. Như đã đề cập ở trên, “Cảnh ngày hè” có thể xem là bài thơ tiêu biểu cho phong cách của ông. Bài thơ là bài thơ số bốn mươi ba trong “Quốc âm thi tập”, được viết trong thời gian Nguyễn Trãi bỏ chốn quan trường lui về ở ẩn. “Cảnh ngày hè” chính là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của mùa hè, chứa đựng trọn vẹn tình yêu đời, yêu dân yêu nước của Nguyễn Trãi.

    Sáu câu đầu “Cảnh ngày hè” được dùng để diễn tả tâm hồn yêu thiên nhiên đất nước, yêu cuộc sống trong những ngày ẩn của Nguyễn Trãi. Hoàn cảnh sinh sống của tác giả được tô đậm ngay từ câu đầu bài thơ:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường,”

     Ngay từ đầu bài thơ, Nguyễn Trãi đã nêu ngay cuộc sống thanh bình những ngày ở ẩn của ông. “Rồi” của nghĩa là rãnh rỗi, cùng “ngày trường”, ta có thể thấy được sự tái hiện của cuộc sống nhàn tản, không vướng bận, hòa mình vào thiên nhiên của ông. Dù được tổ chức theo kiểu một bài thất ngôn bát cú nhưng bài thơ lại mở đầu bằng một câu thơ lục ngôn, ngắt nhịp tự do 1/2/3kéo giãn thời gian một ngày, khiến người đọc có thể cảm nhận được sự tự tại, không gò ép của ông, cảm giác thư thái cũng theo đó mà ngân nga, lắng đọng.

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”

    Ở năm câu thơ tiếp theo chính là bức tranh thiên nhiên về mùa hè tuyệt đẹp, tất cả đều được tái hiện qua đôi mắt người thi nhân vĩ đại. Dùng biện pháp liệt kê, kể các hình ảnh gắn liền với mùa hè như hoa hòe, lựu, hoa sen, chợ cá. Tất cả đã vẽ nên một bức tranh bình dị, gần gũi của cuộc sống thôn quê. Nguyễn Trãi đã tinh tế pha trộn cả hai không gian tĩnh và động. Sự động được thể hiện qua các động từ cũng như sử dụng từ láy hình ảnh có tính chất mạnh mẽ như “đùn đùn”, “phun”, “tiễn”, “giương”. Từ đó, ta có thể cảm nhận được sức sống mãnh liệt căn tràn bên trong vạn vật. Nếu mùa xuân là khi cây trái đâm chồi nảy lộc, thì mùa hè chính là lúc chúng mạnh mẽ nhất, phô ra cái căng đầy và sung mãn nhất của sự trưởng thành.

     Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng đến nghệ thuật màu sắc để tô điểm thêm cho bức tranh của mình. Từ màu xanh um tùm của lá cây, màu vàng của hoa hòe, đỏ của lựu rồi màu hồng của hoa sen, ta có thể thấy có sự pha trộn giữa hai gam màu nóng lạnh, nhưng tất nhiên gam màu nóng chiếm ưu thế chủ đạo. Trong số đó, hoa lựu đã không còn là màu đỏ nhàn nhạt mà được thể hiện đầy rực rỡ như mặt trời ngày hè. Sau này, Nguyễn Du cũng dùng hình ảnh hoa lựu để diễn tả mùa hè của mình.

“Dưới trăng quyên đã gọi hè, 
Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông.”

     Nguyễn Du cũng ví hoa lựu của mình như ngọn lửa. Tuy nhiên, “lập lòe” là một từ nhẹ, như làm giảm đi cái nóng của ngọn lửa ấy, không thể rực rỡ bùng cháy như hoa lựu của Nguyễn Trãi “phun thức đỏ”.

Dù Nguyễn Trãi chưa đề cập đến sự oi bức nhưng ta cũng có thể cảm nhận được cái nóng và nắng cháy da xé thịt của ngày hè. Qua bài thơ, ta còn ngửi thấy mùi hương hoa sen hồng thoang thoảng trong gió, nghe thấy âm thanh “lao xao” của chợ cá phía xa và đặc biệt hơn là tiếng ve đầy đặc trưng mà chỉ ngày hè mới có. Nguyễn Trãi cảm nhận tiếng ve như một bản hòa âm của mùa hè, là “cầm ve” tức bản đàn của chứ không còn là những tiếng “chi chi” đơn điệu. Tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ để nhận mạnh thêm về mặt âm thanh, tái hiện lại ánh chiều tàn của một ngày nhưng vẫn không thiếu phần rộn ràng. Năm câu thơ đã thể hiện trọn vẹn sự gắn kết của Nguyễn Trãi với thiên nhiên, khi ông dùng tất cả các giác quan của mình (trừ vị giác) cùng sự liên tưởng để cảm nhận mùa hè một cách trọn vẹn nhất, khiến cho người đọc nhận ra được tình yêu thiên nhiên của ông cùng sự giao cảm mãnh liệt nhưng không thiếu phần tinh tế của nhà thơ với ngày hè.

“Dẻ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

     Qua hai câu kết, Nguyễn Trãi cũng đã trải lòng mình ra, tấm lòng thương dân yêu nước. Mặc dù ông đang ở ẩn, nhưng vẫn không thể buông xuống gãnh nặng lo lắng cho nhân dân. “Thân nhàn nhưng tâm không nhàn” – một mô tip thường thấy trong thơ Nguyễn Trãi. Từ “dẻ có” trong câu thơ có nghĩa là nên có, tức đây là mong muốn của tác giả. Nguyễn Trãi sử dụng thần thoại Trung Quốc về cây đàn của vua Ngu Thuấn, đàn lên khúc Nam Phong, cầu cho dân chúng thêm nhiều của, ấm no hạnh phúc. Ý nghĩa của cả câu thơ chính là Nguyễn Trãi mong muốn có được cây đàn của vua Ngu Thuấn để đàn khúc Nam Phong cho nhân dân thái bình hạnh phúc. Mở đầu bằng một câu thơ sáu chữ, kết thúc bằng một câu thơ sáu chữ, cùng cách ngắt nhịp 3/3 ngắn gọn, dứt khoát, cùng việc sử dụng nghệ thuật liệt kê tăng tiếng “giàu”, “đủ”, “đòi”, câu thơ cuối nói lên mong muốn dân giàu đủ mạnh mẽ chắc chắn của Nguyễn Trãi, không chỉ ở một địa phương mà là “khắp đòi phương” túc ở mọi nơi. Tấm lòng thanh cao của Nguyễn Trãi lan dài, dù trong mọi hoàn cảnh, lòng ông luôn quan tâm tới đất nước. Đó cũng là lí do vì sao sau khi ông lui về ở ẩn, ông vẫn tiếp tục hỗ trợ, tham vấn cho triều đình nhưng không trực tiếp làm quan. Câu thơ lục ngôn cuối cùng ấy tuy ngắn gọn nhưng đã thể hiện được sự dồn nén cảm xúc của Nguyễn Trãi trong cả bài thơ.

     Với nghệ thuật cùng ngôn ngữ hình ảnh giản dị, gần gũi cùng năng lực sáng tạo kiệt suất của Nguyễn Trãi, ông đã biến hóa thành công thể thơ thất ngôn Đường luật và sử dụng như một thể thơ dân tộc, giúp thể hiện thành công và trọn vẹn tâm ý của nhà thơ.

     Nguyễn Trãi là một nhà thơ đáng ngưỡng mộ không chỉ ở tài năng mà còn ở tấm lòng yêu thiên nhiên, thương dân và trung hậu với đất nước. “Cảnh ngày hè” đã xuất sắc thể hiện trọn vẹn lại không chỉ cái tài mà còn cả cái tâm của Nguyễn Trãi.

Messie Huỳnh

NHÀN – NGUYỄN BỈNH KHIÊM

NHÀN – NGUYỄN BỈNH KHIÊM

     Nguyễn Bỉnh Khiên là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một kho tàng thơ đồ sộ, và đã có gần một nghìn bài thơ được tìm thấy. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm tính triết lí, giáo huần, ngợi ca ý chí, thú thanh nhàn và đồng thơi phê phán những điều xấu xa trong xã hội. “Nhàn” chính là bài thơ tiêu biểu mang đậm phong cách riêng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là bài thơ Nôm trong “Bạch Vân quốc ngữ thi”.

     Ngyễn Bỉnh Khiêm làm quan dưới triều Mạc, nhưng sau khi thất bại trong việc dâng sớ xin chém mười tám tên nịnh thần, ông lui về ở ẩn. Trong thời gian đó, ông đã viết rất nhiều bài thơ, và “Nhàn” là một trong số ấy. Tiêu đề “Nhàn” không phải của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà là do người đời sau đặt. Bài thơ như lời tâm sự sâu sắc của tác giả về quan niệm sống, khẳng định cách sống nhàn, hòa hợp với thiên nhiên, giữ cố cách thanh cao, không màng danh lợi.

“Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”

     Hai câu đầu, cũng là hai câu đề bài thơ đã tái hiện lại hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc bấy giờ cũng như tâm trạng của ông. Ở câu đầu tiên xuẩt hiện những công cụ quen thuộc “cuốc”, “cần câu”, cùng từ “một” được lập lại nhiều lần, gợi lên cuộc sống bình dị của một lão nông nhàn nhã. Bên cạnh đó, cách ngắc nhịp đặc biệt 2/2/3 cũng góp phần làm sáng tỏ sự nhàn hạ đó. Ở câu thơ thứ hai, “thơ thẩn” được dùng để thể hiện trạng thái thảnh thơi, không lo âu , vướng bận, khắc họa hình ảnh một con người chậm rãi, khoan thai. Đặt vào hoàn cảnh của tác giả, có thể thấy lúc nhàn rỗi của ông chính là thơi gian ông lui về ở ẩn. “Dầu ai vui thú nào” ý chỉ việc tác giả không quan tâm đến lựa chọn của người khác, không còn bon chen giành giật ở chốn quan trường mà kiên định với sự lựa chọn của bản thân, ẩn mình khỏi vong danh lợi, sống nhẹ nhành vui thú điền viên. Sự lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm càng được thể hiện rõ nét hơn qua hai câu thực tiếp theo.

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”

     Trong hai câu thơ trên, nghệ thuật đối lập được tô đậm qua cách dùng tính từ “dại”-“ khôn”, “vắng vẻ”-“lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tự cho mình là “dại” khi tìm đến chốn thôn quê, “nơi vắng vẻ” sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho người người đuổi theo vinh hoa phú quý, tìm đến “chốn lao xao” . “Nơi vắng vẻ” là nơi yên bình, người người hiền lành chất phác, sống hòa hợp với thiên nhiên, trong khi đó “chốn lao xao” là kinh đô phồn hoa nhộn nhịp, là chốn quan quan trường luôn đầy rẫy những con người bị nhuốm bẩn bởi tiền tài, tham vọng, những âm mưu ngoan độc, nơi  người đạp người đi lên. Vậy câu hỏi đặt ra là, lối sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm là lối sống vô trách nhiệm? Xét theo hoàn cảnh của ông, khi triều đình đang diễn ra tranh chấp địa vị, quyền lực, mặc cho nhân dân đói khổ thì hoài bảo giúp vua giúp nước an dân của Nguyễn Bỉnh Khiêm tất nhiên là thật khó để thành sự thật. Vì thế, ông đã quyết định rời bỏ “chốn lao xao” để giữ lại cốt cách thanh cao của mình. Ta có thể thấy trong thời gian ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tiếp tục tham vấn cho triều đình nhưng không trực tiếp tham gia vào việc triều chính nên không thể nói rằng lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là lựa chọn vô trách nhiệm, mà đó là cách làm thật đúng đắn. Do đó qua hai câu thơ, tác giả còn sử dụng cách nói ngược, dùng hàm ý mỉa mai. Trong thi phẩm “Dại khôn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm một lần nữa thể hiện quan niệm, trí tuệ và nhân cách hơn người của mình khi nói:

“Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.”

     Trở lại với cuộc sống ẩn dật của mình, tác giả đã tái hiện lại cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên của mình qua hai câu luận tiếp theo của bài thơ.

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”

     Hai câu thơ là bức tranh tứ bình về sinh hoạt cả 4 mùa xuân hạ thu đông. Hai câu thơ vận dụng biện pháp liệt kê, liệt kê cả bốn mùa cũng những thức ăn, sự vật có trong mỗi mùa. “Mùa nào thất nấy”, quả vậy, tác giả sống hòa mình vào thiên nhiên, không cần những thứ xa hoa, cao sơn mĩ vị. Cuộc sống ông đạm bạc đến không thể đạm bạc hơn, có gì ăn đó, còn gì dùng nấy, không cầu kì đòi hỏi. Mùa thu thì có măng trúc, khi đông đến, vạn vật không thể đâm chồi lại có giá thay. Tuy nhiên, bên cạnh nghĩa gốc, lại có ý kiến cho rằng, “giá” ở đây còn có nghĩa là “giá rét”. Xuân Diệu cũng từng nói rằng “cảm tưởng tác giả ăn giá tuyết, uống măng đông”. Theo cách nghĩ này, có thể nói ông không cần một cuộc sống ấm no đầy đủ, dù có thiếu thốn đôi chỗ nhưng ông vẫn rất hài long với cuộc sống hiện tại. Xoay tiếp sang “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.” Câu thơ diễn tả bức tranh sinh hoạt không chỉ bình dị mà còn đầy tính thẩm mĩ. Tất cả đã xây dựng nên một cuộc sống đạm bạc, giản dị, thanh cao.

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

     Hai câu kết này như phủ định lại chữ nhàn mà tác giả thể hiện từ đầu bài thơ đến giờ, chỉ ra rằng tác giả là “nhàn thân không nhàn tâm”, tức ngoài mặc ông có vẻ thoải mái, nhàn rỗi nhưng trong lòng luôn vướng bận nhiều lo âu, suy nghĩ. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tích điển Thuần Vu Phần uống rượu say. Khi say, Thuần Vu Phần mơ thấy đến nước Hòe An, được rất nhiều vinh hoa phú quý, nhưng cuối cùng tỉnh mộng và nhận ra đó chỉ là giấc mơ. Khi sử dụng điển tích này, Nguyễn Bỉnh Khiêm như nhấn mạnh bản thân xem nhẹ phú quý, bởi bản thân ông đã từng làm quan cho nhà Mạc, có đủ phú quý nhưng ông không xem trọng nó, không lấy nó làm mục đích sống, chỉ xem đó như là một giấc mộng không có thật, khiến người ta sa vào để rồi hụt hẫng khi giật mình tỉnh dậy, nên ông đã  tìm đến nơi làng quê thanh bình để giữ lại cho mình cốt cách thanh cao. Hai câu thơ thể hiện cái nhìn cũng như quan niệm sống của một nhà trí tuệ lớn, có tính triết lí sâu sắc. Ngoài ra, với cách ngắt nhịp 1/3/3 đầy mới lạ, Nguyễn Bỉnh Khiêm như muốn nhấn mạnh thêm về cái nhìn của mình.

      Mặc dù “Nhàn” là một bài thơ Nôm, nhưng với cách sử dụng ngôn ngữ đầy giản dị, tự nhiên khiến người đọc cảm thấy dễ hiểu, cũng là cách làm rõ quan niệm sống nhàn của ông. Nguyễn Bỉnh Khiên còn qua bài thơ, kết hợp tính trữ tình vào triết lí, làm bài thơ thêm phần thâm trầm nhưng sâu sắc. Cả bài thơ đã thể hiện trọn vẹn cái nhìn và cuộc sống của tác giả, về sự hòa mình vào thiên nhiên, giữ vững cốt cách thanh cao cũng như tránh xa vòng danh lợi nhưng lại không thể tránh khỏi việc trong lòng vẫn còn vướng bận việc nước, lo nghĩ cho dân, nhân mạnh trí tuệ và nhân cách hơn người của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

     “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là tiêu biểu cho dòng thơ Nôm trong nền thơ ca Việt Nam nói chung và kho tàng văn học trung đại nói riêng. Bài thơ chính là cách truyền lại quan niệm sống trong sạch, thanh cao đáng ngưỡng mộ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến các thế hệ mai sau.


Messie Huỳnh