Hiển thị các bài đăng có nhãn short story. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn short story. Hiển thị tất cả bài đăng

9 thg 3, 2014

Luân Đôn - trải nghiệm một mùa hè


“Đi cho biết đó biết đây,
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.”

   Nói xong câu ca dao mà mẹ cho là vĩ đại ấy, bà quăng luôn tôi sang Anh phụ việc với dì cho tới hết mùa hè. Chán thật.

---------`(^0^)’---------

   Mấy ngày nay Luân Đôn mưa tầm tã, cứ như ông trời nóng giận mà trút cả xuống thành phố hoa lệ này. Có lẽ nhờ đó mà quán vắng hẳn, tầng dưới chỉ còn dăm ba người, tầng trên thì vẫn vậy. Tôi yêu nơi này, yêu ngay từ cái khoảnh khắc đầu tiên tôi đặt chân vào quán, ngay khi hương cà phê nồng nàn quen thuộc sực bay vào mũi, khi những ca khúc êm dịu được cất lên. Dì tôi làm việc cho một công ty bất động sản tại Anh, còn cái quán cà phê sách này dì mở ra chỉ là nghề tay trái, kiếm thêm chút lời cũng như tạo công ăn việc làm cho mấy du học sinh đồng hương để trang trải cuộc sống. Chẳng biết từ đâu mà dì tìm được mặt bằng quá tuyệt, nên quán thường ngày vẫn đông khách lắm. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ, tầng dưới đơn giản chỉ là chỗ dừng chân cho người qua đường, khi cổ họng đột nhiên khô rát. Nó luôn ồn ào và náo nhiệt. Người ta tới chỉ để ngồi chụp ảnh, trò chuyện hay đơn giản hơn là mua một cốc cà phê mang đi. Chẳng ai nhớ rằng đây là một quán cà phê sách, dường như trong tâm trí họ chữ “sách” đã bị quẳng mất rồi. Kệ sách nhỏ ở đó dì bảo ban đầu có rất nhiều sách hay, song bây giờ chỉ toàn mấy tờ báo lá cải và vài cuốn sách đang nổi cho ra vẻ mà thôi. Tôi thường để nhỏ em họ quản lí tầng dưới, vì nó có vẻ rất hợp với nơi đó.

   Tôi phụ trách tầng trên, nơi thật sự mới là một quán cà phê sách. Ở đây, bốn bề là các kệ sách. Sách lớn nhỏ mới cũ đều có mặt. Hầu hết đều là tiếng Anh song vẫn đan xen vài tác phẩm Việt Nam như một cách để dì, hay những con người đất Việt tình cờ ghé đến nhớ về quê nhà. Tầng trên lúc nào cũng le que vài người, yên ắng lạ lùng. Tất cả những gì tôi nghe thấy chỉ là những bản hòa tấu dịu êm, tiếng lật sách nhẹ nhàng và tiếng lạch cạch của bàn phím. Có cô gái đến đây mỗi ngày, như đang cố gắng đọc hết các kệ sách kia. Rồi còn có ông nhà văn nào đó, gọi duy có hai hay ba tách cà phê mà ngồi từ sáng tới chiều cùng cái laptop của ông, xung quanh bày ngập những sách. Hầu hết những người ở đây mới là những người thật sự quan tâm đến sách, cần nơi yên tĩnh để đọc hay làm việc, và bước vào đây như bước vào một quán cà phê sách thật sự.




 Trời mưa, như tôi đã nói ở trên, nên nhỏ em họ chẳng thèm lui tới nữa. Tôi phải thay nó quản lí luôn cả tầng dưới, kể ra cũng không khó lắm. Rồi có một người thu hút ánh nhìn của tôi. Ở một bàn phía trong góc khuất gần cửa ra vào, luôn có một chàng trai, rất đẹp, mang theo cuốn sách của riêng mình và ngồi đó, trông yên bình đến lạ. Mái tóc hơi quăn, rũ khỏi trán một chút cùng gọng kính che đi cửa sổ tâm hồn anh. Anh đến để đọc sách. Đôi mắt anh luôn chăm chú vào cuốn sách mà anh đọc, đôi lúc ngẩng lên đưa ánh nhìn xa xăm, suy tư vào màn mưa tĩnh mịch bên kia khung cửa kính. Rồi những khi trời tạnh mưa, tầng trệt bắt đầu đông khách. Khi ấy, anh luôn bị các ánh nhìn từ nhiều cô nàng chăm chú dõi theo, đầy khát khao và ngưỡng mộ. Trông anh khi ấy khó chịu vô cùng, nhưng chẳng biết làm sao giải quyết. Lúc tôi xuống lầu dọn dẹp mấy tách cà phê của mình, anh đụng phải tôi trong lúc chạy trốn khỏi mấy cô nàng nhốn nháo xin anh số điện thoại, hay tìm cách liên lạc, bắt chuyện với anh. Trông anh khốn khổ đến buồn cười. Tôi khi ấy bất giác mở miệng:

-          Anh có muốn đến quán cà phê sách thật sự không?

   Anh đưa mắt nhìn tôi, ánh nhìn tỏ rõ sự kì lạ và khó hiểu. Lúc này, tôi mới quan sát được đôi mắt mà tôi luôn tò mò. Qua cặp kính, với mi dài cong vút, đôi mắt anh mang màu xanh của trời và biển, mênh mông đến khó nắm bắt, đẹp nhưng buồn.

-          Đi theo tôi. – Tôi nói.

   Tôi đưa anh vào một lối hành lang nhỏ hẹp, bước lên cầu thang cũng hẹp nốt, tới trước cánh cửa gỗ màu nâu đỏ được trang trí bằng đôi cành dây leo. Đẩy cửa, chúng tôi như bước vào một thế giới khác, trái ngược hoàn toàn với không gian dưới kia, yên tĩnh và thơm mùi sách, bước vào cái nơi mà chỉ khi khách hỏi tới chữ “sách”, nhân viên quán mới chỉ cho họ, và tất nhiên, hầu như chẳng ai hỏi tới. Đôi mắt anh mở to, đầy ngỡ ngàng cũng như thích thú. Anh bước ngay đến bên các kệ ngập những sách, lấy đôi tay to lớn lướt qua gáy nhiều quyển sách rồi lấy cho mình một cuốn, chăm chú nhìn vào tựa đề, rồi anh đi tiếp, tìm cho mình thêm nhiều cuốn sách khác nữa. Trông anh bây giờ như trẻ con ấy, và ánh buồn trông mắt anh cũng biến mất theo niềm vui thích mà anh đang có. Hẳn anh phải yêu sách lắm, yêu vô cùng, như tình yêu của tôi với chúng vậy.

   Từ ngày hôm ấy, anh đã xen chân vào cuộc sống chỉ có quán và sách của tôi ở Luân Đôn. Không phải là tôi không đi thăm thú gì hay công việc quá nhiều, vì dì cũng bảo tôi cứ đi chơi cho đã cũng được kia mà, nhưng thật sự tôi không thích sự cô độc khi phải đi  một mình, cũng như cái hơi ẩm ướt mù sương của thành phố. Nói trắng ra, tôi muốn có ai đó đi cùng, một người bạn chẳng hạn. Và anh đã xuất hiện, lắp mình vào chỗ trống ấy. Mối quan hệ của chúng tôi bắt đầu với những mẫu trò chuyện nhỏ, rời rạc về cà phê và sách, những cuốn sách hay mà tôi đã đọc, những bài học mà anh tìm thấy từ chúng. Rồi, anh kể tôi nghe về cuộc đời sinh viên của anh, còn tôi nói với anh về bản thân và quê nhà, cái đẹp của Việt Nam, về sự nhớ nhà của tôi, và cả sự cô độc chẳng muốn đi đâu thăm thú. Anh và tôi lập một giao kèo nhỏ, rằng tôi sẽ dạy anh tiếng Việt, bù lại, anh sẽ là người bạn cùng tôi du ngoạn, là một hướng dẫn viên cho tôi tại Luân Đôn.




  
 Chúng tôi dần thân nhau hơn, và anh đã chiếm một phần không nhỏ trong tôi, dù chúng tôi biết nhau không quá hai tuần. Tôi bắt đầu thích ngắm nhìn anh huyên thuyên về mấy cuốn sách tuyệt vời mà anh đọc được, mặc dù bình thường tôi mới là người nói luôn mồm  về mấy cái ấy, khiến lũ bạn sau rốt chỉ ừ hử để tôi không nói nữa. Tôi thích cách anh cười, như có nắng ấy, phát ra từ hàm răng trắng đều và cái lúng đồng tiền má trái. Không biết tự lúc nào, tôi bắt đầu buồn miên man những ngày không thấy bóng anh ở quán, nghĩ vẩn vơ và cười một mình mỗi khi nhớ đến anh, hay bắt gặp một cuốn sách nào đó mà anh hay nói đên. Và tôi phát hiện mình hạnh phúc đến lạ mỗi khi nghe anh chuyện trò, hay đơn giản hơn là khi anh đẩy cánh cửa gỗ bước vào thế giới thơm mùi cà phê và sách. Tôi mang chuyện này lên facebook tám với con bạn thân, sẵng gửi luôn nó mấy tấm ảnh Luân Đôn tôi chụp được. Tôi lưỡng lự lách cách đánh:

   “Ê, mày có nghĩ là tao… ừ thì tao… yêu ảnh rồi không?”

Cuộc trò chuyện nãy giờ tự nhiên tắt ngấm. Tôi chẳng biết có gì xảy ra bên đó nữa, hay chăng nhỏ té ghế rồi. Năm phút, không, chính xác là bốn phút năm mươi hai giây sau, một dòng tin nhắn dài thòng, độc một dấu phẩy, được gửi qua cho tôi, đọc mà cứ muốn đứt hơi ấy.

   “Tao đã suy nghĩ rất kĩ về cái thứ tình cảm của mày mà mày nói là mày đối với ảnh trong vòng bốn phút nhưng tao lại không nghĩ đó là tình yêu mà tao nghĩ đó là tình cảm bạn bè đầy cảm kích quan tâm mà mày có với một người khác giới nơi đất khách không bạn bè đồng trang lứa trò chuyện, còn nếu mà mày không đồng ý với ý kiến của tao thì tao xin nói cho mày nghe dù cho có là nặng lắm thì tối đa là mày bây giờ chỉ có thể là cảm nắng mà thôi.”

   Là “cảm nắng” sao, có thật không kia chứ? Tôi chưa yêu bao giờ nên chẳng biết nữa. Nếu nói là tôi chưa từng quen ai thì cũng không đúng, song đó chỉ là tình cảm một bên của họ, tôi nhận lời, đi chơi cùng vài buổi, trò chuyện rồi cứ thế mà chia tay thôi. Những cuộc tình ấy cứ thoáng qua như những chuyến hành trình, những bước đi mà tôi phải có, để lại cho tôi vài kinh nghiệm về việc được ai đó yêu thương. Tôi bỏ mặc cái tin nhắn dài ngoằng ấy luôn. Cứ kệ đi, dù tôi có là yêu anh hay phải lòng say nắng thì cũng chẳng quan trọng mấy. Tôi tốt nhất cứ thế này hưởng thụ hết những ngày hè Luân Đôn có anh đi đã.

   Anh thực hiện lời hứa của mình, cùng tôi đi dạo quanh hưởng thụ cái đẹp của thành phố mù sương này. Anh dắt tôi đi qua những địa danh mà anh cho là đẹp nhất ở Luân Đôn. Mang cái máy ảnh chuyên dụng mà tôi mất không ít năm dành dụm đi lòng vòng thành phố, tôi lắp đầy nó bằng những công trình nghệ thuật tuyệt vời, chúng thật sự khiến tôi muốn thi vào kiến trúc, và ghi lại cả những nụ cười mà tôi có cùng anh. Chắc mọi người ai cũng có thể đoán chúng tôi đi qua đâu rồi hen. Sau khi đi tàu ra tham quan giáo đường cổ kính St Paul đẹp tuyệt vời mà tôi luôn mơ ước được chứng kiến dù chỉ một lần trong đời, chúng tôi trở về dạo một vòng quanh khu trung tâm ngắm nhìn tháp Big Ben sừng sững, thử một vòng London Eye, rồi chúng tôi len xuống phố Portobello nổi danh đầy du khách kiếm mấy cái quà lưu niệm hay hay mang về. Nói là nói thế chứ chúng tôi đi chỉ ngắm, chứ nào có mua được gì nhiều, toàn là lặt vặt. Phố đông khủng, có lẽ do hôm nay là thứ bảy, ngày nhộn nhịp nhất. Phố bày hàng mới cũ lớn nhỏ đủ loại, nhưng xét đi xét lại thì tôi cũng chẳng ưng ý cái nào lắm, đẹp thì mắc quá còn rẻ thì chẳng đâu vào đâu, được cái giá không chát bằng mấy trung tâm sầm uất. Lượn qua lượn lại, cuối cùng thì mua thêm hai ly cà phê takeaway, rồi chúng tôi tản bộ tới quảng trường Trafalgar. Chúng tôi vừa đi vừa tán đủ chuyện trên đời, lâu lâu lại ghé qua mấy hàng sách nghía xem có gì đặc biệt. Đáp ứng đòi hỏi vô lí của tôi, anh lại phải cùng tôi đi xe buýt vòng ngược lại xem điện Buckingham và hằng hà sa số các địa danh vào những ngày khác nữa. Tuyệt nhất là khi chúng tôi đến viện bảo tàng Sherlock Holmes số 221b đường Baker, địa chỉ nổi tiếng nhất thế giới. Đôi mắt tôi như sáng rỡ lên trước các hiện vật thật sự đến từ chính bộ tiểu thuyết vĩ đại nhất mà tôi từng đọc. Anh đã phải bụm miệng tôi lại để tôi không phải hét lên, hơi ấm từ bàn tay anh truyền đến như giúp tôi giữ lấy những giọt bình tĩnh cuối cùng của mình. Giờ nghĩ lại chuyến đi như một giấc mơ thần tiên vậy. Khi ấy, tôi có bị đâm chết cũng mãn nguyện.



   Sau rốt, vào tuần cuối cùng trước khi tôi về nước, anh cùng tôi dạo dọc sông Thames huyền thoại, ngắm hoàng hôn đang buông xuống. Tôi chẳng hiểu được thần mặt trời có ác cảm gì với thành phố đẹp một cách cổ kính này, mới hơn bốn giờ chiều mà đã muốn lặng mất tăm. Những tia nắng cuối ngày, len lỏi trải dài như dát vàng cả một khúc sông. Anh lấy chân gảy nhẹ một hòn đá xuống sông, và tôi bắt chước theo. Hòn đá đập xuống đất rồi rơi xuống lòng sông, tạo ra âm thanh nhẹ hẫng làm mặt sông rung động. Qua những chuyến đi, tôi nhận ra rằng tình cảm tôi dành cho anh cũng lớn dần lên. Nhưng chính anh đã đập vỡ nó. Tôi không hề nói ra bất cứ lời nào về cảm giác của mình đâu nhé, và anh hình như cũng chẳng biết gì. Song, khi đi dọc con sông, tôi thấy anh như trầm lặng hơn thường ngày, bước đi chậm rãi và mắt mãi hướng ánh nhìn về một hướng. Nhìn theo hướng đôi mắt buồn màu biển kia, tôi thấy có một căn nhà trang nhã, sơn trắng với lối kiến trúc thật giản đơn. Anh thỏ thẻ với tôi rằng, trong đó có người con gái mà anh mang lòng thương yêu. Cô ấy vì anh mà giờ đây đi lại thật khó khăn, đa phần là dùng xe lăn để di chuyển. Câu chuyện của anh và cô thật buồn, cứa vào tim tôi những vệt dài. Anh hỏi tôi liệu giờ đây có phải tình yêu anh dành cho cô vẫn nguyên vẹn như ngày nào, hay chăng chỉ còn là lòng biết ơn, trách nhiệm và sự tội nghiệp thương cảm. Tôi muốn nói như thế lắm chứ, nhưng khi nhìn đôi mắt của anh, tôi không thể cất ra những lời đó. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn quả không sai, nó ánh lên tình yêu tròn vẹn của anh dành cho cô khi anh nhắc đến tên cô ấy. Tôi vỗ vai anh và cười, bảo:

-          Em không biết anh thế nào, nhưng qua đôi mắt anh, em thấy tình yêu anh dành cho cô ấy thật đẹp, vẹn nguyên tròn trịa. Can đảm lên anh, đến bên cô ấy và bù đắp lại những gì cô ấy đã cho anh. À không, phải cho đi vạn lần nữa kìa.

Tôi cười khì, đi nhanh một chút vượt khỏi tầm mắt anh, để anh không phải nhìn thấy giọt mước mắt khẽ lăn dài trên má tôi. Nhớ lại cái dòng tin nhắn hụt hơi của con bạn, tôi quệt nước mắt, cười thật tươi.

   “Ừ, đây chỉ là cơn cảm nắng thôi, rồi nay mai sẽ hết cảm mà”


   Chuyến bay sắp cất cánh, tôi ôm dì dượng và nhỏ em họ thật chặt. Anh cũng đến tiễn, hai tay đẩy một chiếc xe lăn có cô gái xinh đẹp ngồi trên đó. Lòng tôi se lại. Đôi mắt buồn qua cặp kính lần nữa thu hút sự chú ý của tôi. Tôi đến bên họ, chào cô gái rồi siết lấy bàn tay anh, chặt thật chặt, như muốn truyền lại tất cả các tâm tư tình cảm của tôi dành cho anh trong suốt những ngày hè Luân Đôn. Cười thật tươi, nhìn vào mắt anh nói:

-          Ghé Việt Nam nhé anh, dẫn theo cả cô ấy nữa. – Tôi nhìn cô gái mà đoán chắc là người anh yêu, cười. -  Lần này em sẽ là hướng dẫn viên cho hai người, mà Sài Gòn đẹp không kém gì ở đây đâu nhá. Hì hì. Cảm ơn anh về thời gian qua, nhớ facebook với em đó nhá.

-          Không, là anh phải cảm ơn em mới đúng. – Anh khẽ nói – Cảm ơn em, vì tất cả.



___________________________________________

   Tôi không biết bạn nghĩ gì, nhưng đó là cả một trải nghiệm đối với tôi. Tôi đã “đi” theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng. “Đi” và trải nghiệm ở một phương trời xa lạ, học tập, thỏa mãn mơ ước của mình, cũng như “đi” qua cuộc đời của nhiều con người. hay ít nhất đó cũng là anh. Tôi “đi” rồi để lại nhiều điều phải nhớ. Và từ những bước đi ấy, tôi như trưởng thành hơn một chút. Anh cũng đã “đi”. Anh “đi” qua cuộc đời tôi, để lại nhiều dấu ấn mà mãi về sau có lẽ sẽ chẳng bảo giờ phai. Tôi không rõ mình đã khỏi cảm chưa, nhưng lần sau gặp lại, chắc chắn tôi sẽ cười thật tươi, nói với anh, cũng như với cô gái ấy:

-          WELCOME TO VIETNAM!

(Nếu tay trong tay với một cậu bạn nữa thì càng tốt, hì hì. Đùa thôi)


Messie Huỳnh

Một ngày mưa


Sài Gòn mùa này thật ẩm ương. Cứ như cô thiếu nữ mới lớn, lúc khóc lúc cười, và có pha thêm phần mít ướt nữa. Tôi vừa hoàn thành công việc của mình. Đối với một kẻ “Tự tin không thiếu, bản lĩnh có thừa” như tôi thì trở thành phóng viên cho một tờ báo mạng phải nói là một công việc không tệ, tự do và nhuận bút khá ổn. Tôi vừa hoàn thành một chuyến phỏng vấn các du khách nước ngoài, các đợt phỏng vấn luôn khiến tôi phấn chấn, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi các chủ đề rập khuôn như hôm nay lại khiến tôi thấy tệ, tôi muốn chêm vài câu hỏi của bản thân vào cuộc phỏng vấn nhưng lại không thể. Nhưng cuộc sống nếu cứ theo ý mình thì chắc chắn đó không phải là cuộc sống. Những lúc thế này, tôi lại đi dạo, cho tâm trạng khoay khỏa và các suy nghĩ mông lung sẽ rượt theo gió, đưa nổi buồn bay đi xa. Phạm Ngũ Lão luôn là con đường tôi ưa thích nhất, không phải vì nó đẹp, không phải vì nó đầy những con người đến từ đất khách mà vì nó luôn cho tôi cảm giác mới lạ mỗi khoảnh khắc bước vào. Tạt qua một cửa hàng coffee take away, tôi định mua cho mình một cốc latte to go ( latte mang đi ) thì cô nàng của chúng ta lại lên cơn mít ướt. Ban đầu chỉ là những âm thanh lộp bộp nhỏ to không đều, nhưng sau lại mưa tầm tã như trút nước. Mưa trắng xóa một màu, khiến tôi phải đổi ý ngồi lại. Đây là một cửa hàng mới, bởi một kẻ yêu coffee như tôi không thể bỏ qua một nơi như thế này. Không gian nơi đây thật tuyệt, với tông màu kem và nâu chiếm ưu thế, cho ta một cảm giác ấm áp và bình yên đến lạ. Chọn cho mình một chỗ ngồi cạnh lớp kính trong suốt, nhìn xuyên thấu qua màn mưa tĩnh mịch, thật sự khiến người ta rất có tâm trạng vừa nhâm nhi li coffee nóng và ngắm mưa. Mưa và lạnh, là hai từ khiến tôi đổi từ latte sang capuchino ấm nóng. Gạc bỏ túi đường nho nhỏ mà người phục vụ mang cho, tôi uống capu với vị đắng nguyên thủy của nó, cảm giác ấm áp vô cùng. Quán đổi bài. Tôi lắng nghe và nhận ra bài hát yêu thích của mình: Kiss the rain của Yiruma. Mưa bên ngoài và mưa trong tim, ý nghĩ đó khiến tôi phì cười. Yiruma luôn là vị nhạc sĩ mà tôi thích nhất. Những nốt nhạc của ông luôn như nhìn thấu tâm trạng tôi. Bản độc tấu piano này với âm thanh không lớn, không thể nói là át được tiếng mưa mà có cảm giác như bản nhạc đang cùng với cơn mưa ngoài kia hòa cùng một nhịp, cho người ta cảm giác đang nghe một bản nhạc quen mà lạ, trầm lắng và sâu sắc.



 Mưa nhỏ giọt dần rồi tạnh. Nói thế không hẳn là đúng bởi đâu đó vẫn còn những giọt mưa to có nhỏ có nhảy nhót, nhưng lại không đủ làm ướt mái đầu. Cậu camera đi cùng tôi khi nãy đang gọi tôi ngoài lớp cửa kính kia. Cậu hỏi xem tôi có cần đi nhờ về nhà không, cậu sẽ chở. Tôi bậc cười, đùa vui rằng nhà tôi rất xa, liệu cậu có đủ can đảm để đưa tôi về đến nhà không. Rồi tôi nhảy tót lên yên sau mà không cần đợi nghe câu trả lời của cậu. Bởi tôi biết rằng cậu sẽ không từ chối. Không có lí do gì sâu sắc, chỉ đơn giản là sau nhiều tuần làm việc, tôi phát hiện rằng việc từ chối ai đó là không thể với cậu. Cậu là một chàng trai mộc mạc, hòa đồng với nụ cười tỏa nắng, dường như chữ “Không” không nằm trong từ điển của cậu. Người như cậu có lẽ giờ đây đã trở thành động vật quý hiếm rồi. Cậu chở tôi lướt vi vu qua các con đường lớn nhỏ, cảm nhận khí trời sau cơn mưa có phần mát mẻ đẫm hơi nước. Những giọt mưa lại lách tách rơi, rồi lớn dần, nhưng chúng tôi vẫn cứ thế mà chạy, không dừng lại mặc áo mưa như những người đi đường khác. Lạnh, cái lạnh của gió và mưa như cắt vào da thịt, mơn trớn trên làn da của tôi. Cậu bạn hãm tốc độ lại, ngỏ ý xem tôi có lạnh khôngvời cởi chiếc áo ngoài của mình, khoác vào cho tôi mà không đợi nghe câu trả lời. Đối với nhiều người, đó là hành động lãng mạn của các cặp đôi. Nhưng với tôi, chỉ có những chàng trai ngốc nghếch mới làm như vậy. Tại sao ư? Vì đơn giản là những chàng trai thông minh sẽ không làm thế. Họ sẽ ôm chặt và sưởi ấm cho người con gái mình yêu thay vì nhường cô một chiếc áo, nhưng không phải ai khi yêu cũng thông minh nhỉ?



 Nhưng ở đây, giữa tôi và cậu chỉ là tình bạn, nên hành động đó thật đáng yêu. Cậu chở tôi rẽ vào một con đường ngập nước. Sau một thời gian phỏng vấn các con người đất khách, tôi có thể rút ra ba thành kiến xuất hiện ở hầu hết du khách, nhất là du khách phương tây về Việt Nam:
 Người Việt ăn thịt chó và thịt mèo
 Việt Nam rất nóng
 Điều tồi tệ nhất ở Việt Nam chính là vấn đề giao thông
Nếu là 2 điều trên thì may ra còn có cớ để biện minh chứ điều thứ ba thì có lẽ ai cũng phải công nhận thôi. Mùa nắng thì kẹt xe, ùn tắt khỏi phải nói. Mùa mưa thì thôi rồi, thêm cái màn ngập nước chẳng khác nào cho xăng vào lửa. Nước từ các cống rãnh và sông dâng lên khiến hình ảnh các ngôi nhà nền thấp phải tất bật nâng lên không phải hiếm. Cậu dừng lại trước cửa nhà khiến dòng suy nghĩ mông lung của tôi dừng phắt lại như cái cách cậu thắng xe. Gửi cậu cái áo, cười và một lời cảm ơn nho nhỏ được để lại bên cậu, tôi rời bước vào nhà. Trời cũng chẳng còn sáng gì, tắm cho ấm, tôi leo lên giường, bật ngẫu nhiên một bản nhạc của Yiruma rồi chìm vào giấc ngủ, mang theo hi vọng rằng ngày mai sẽ là một ngày sáng sủa và nắng ấm.

Messie Huỳnh

Mùa hè năm ấy

  Tôi bất hạnh hay hạnh phúc, tôi chẳng biết nữa. Ban đầu tôi nghĩ cuộc đời mình luôn bất hạnh. Tại sao ư, bởi tôi là một cô gái câm điếc. Khi bé tí, một căn bệnh đã đến và mang đi đôi tai tôi. Tôi biết bản thân vẫn có thể nói được, nhưng cảm giác không thể nghe thấy bản thân mình nói gì thật khó chịu, tôi ít nói dần và âm thanh từ cuống họng tôi cũng biến mất theo thời gian. Tôi lo sợ ngày nào đó, khả năng đó sẽ mãi mãi rời bỏ tôi như đôi tai này nên tôi cố gắng cười thật nhiều. Tôi luôn không khỏi thắc mắc không biết nụ cười bản thân ra sao, âm thanh đó là trầm buồn hay cao vút. Tôi luôn cố gắng tỏ ra vui vẻ nhất để làm yên lòng bố mẹ. Thật khó chịu khi sau lưng lúc nào cũng cảm nhận được ánh mắt châm chọc, còn trước mặt luôn là sự thương hại của mọi người. Tôi sợ, sợ lắm cái cảm giác ấy.

   Ông trời có lẽ cũng tiếc thương mà ban cho tôi một thứ để đền bù những mất mát của bản thân. Tôi được nhận một đôi mắt to, khiến cho gương mặt tôi đẹp hơn nhiều người khác ( không tự sướng đâu nhé ). Nhờ đôi mắt ấy, tôi luôn có thể quan sát mọi vật rõ ràng, chính sát hơn mọi người. Sự tinh nhạy của đôi mắt tôi có thể nhận ra cả những thay đổi nhỏ nhất trên các gương mặt. Việc ấy thật sự chẳng mấy vui vẻ gì khi cứ nhìn thấy nét thương hại hay châm chọc trên gương mặt mọi người, dù họ đã nổ lực che giấu chúng.



 Mẹ tôi vì thế mà quan tâm tôi rất mực. Bà nghĩ rằng bà biết rõ hết các thói quen của tôi. Việc tôi luôn ra biển mỗi sáng, yêu thả diều ở bãi sau bờ biển,... luôn được thu vào tầm mắt bà. Nhưng không gì không ngoại lệ, tôi vẫn có bí mật cho riêng mình. Đó là nơi lẩn trốn yêu thích của tôi khi những cảm xúc quá tải, ngọn hải đăng của riêng tôi. Ngọn hải đăng ấy đã bị bỏ hoang rất lâu, không biết tự bao giờ. Lâu đến mức rong rêu mọc lên bám đầy quanh nơi nó. Hai màu đỏ trắng đã không còn nữa, chúng giờ đây xám xịt một màu, ẩm lạnh. Trước cửa là biển cấm vào đã phai mờ theo thời gian. Tôi đẩy mạnh cánh cửa đá mà ổ khóa vốn hỏng do bị ăn mòn. Leo nhanh lên các bật thang lạnh lẽo và ẩm ướt đến nơi cao nhất, tôi có cảm giác như mình là cánh chim tự do đang lướt đi trong gió, quên hết mọi mặc cảm bản thân. Ngọn hải đăng cho tôi cảm giác như có lại đôi tai đã mất bởi chỉ tại nơi đây, tôi cảm nhận được tiếng gió vi vu, lùa qua mái tóc dài đen đang tung bay phất phới. Và đó là bí mật tuyệt vời nhất của tôi, bí mật của riêng tôi, không phải ai khác, chỉ tôi thôi.

   Và tôi gặp anh, vào một buổi sáng những ngày đầu tiên của mùa hè. Chúng tôi trạc tuổi nhau, không thể gọi là trẻ con nhưng cũng chẳng phải người lớn. Anh đến đây cùng mẹ, để nghỉ hè, khuây khỏa đầu óc trước khi bắt đầu năm học mới. Với tôi, anh thật đặc biệt. Anh không giống những người khác. Tôi không tài nào nhìn thấy nét thương hại hay chế giễu trên mặt anh. Điều ấy khiến anh mang đến cho tôi cảm giác thật bình yên dễ chịu. Anh không đẹp, cũng chỉ bình thường như những chàng trai khác. Mái tóc đen xoăn lại, cho dù tôi có cố gắng đến mức nào đi nữa thì cũng không thể khiến chúng duỗi thẳng ra. Gương mặt không đặt biệt nhưng như tỏa nắng mỗi khi anh cười. Chúng tôi thân với nhau rất nhanh, và trong tâm tôi tự mặc định rằng anh chính là người sinh ra để dành cho tôi. Một sáng nọ, lúc anh đang đứng trên bờ biển, hít thở cái không khí mát lạnh tuyệt vời buổi nắng sớm, tôi đến bên anh. Bỗng anh lùi lại ngay một bước khi tôi đến gần, gương mặt anh ánh lên sự sợ hãi. Tôi nghĩ tôi đã lầm, anh cũng thế, cũng như những người khác, sợ hãi trước kẻ dị tật như tôi. Tôi vụt chạy, đôi mắt ngấn nước. Tôi tự hỏi liệu tôi có tìm thấy ai khác giống như anh những ngày qua không. Ngoài kia biển đầy nắng, nhưng sao trong tim tôi nắng như tắt mất rồi, để bóng tối lại bao trùm, lần nữa. Chúng tôi đã không gặp nhau cả ngày hôm đó. Điều ấy khiến thời gian quanh tôi như quay ngược lại lúc chưa biết đến sự tồn tại của anh. Sáng sớm, trời thật xanh nhưng tâm hồn tôi sao mà u tối quá. Tôi lại ra bãi sau bờ biển, giờ nó đã là thói quen của tôi mỗi buổi sáng. Tôi thấy anh đến. Và tôi cố lờ đi sự tồn tại của anh. Tôi không muốn bản thân tổn thương, và lại lần nữa, tôi chạy khỏi anh. Nhưng lần này thì khác, anh đã bắt kịp tôi, nắm chặt lấy bàn tay tôi và truyền tất cả hơi ấm của anh vào đó. Anh viết lên cát dòng xin lỗi, và anh bảo anh sẽ cho tôi xem bí mật của anh. Bí mật mà anh không bao giờ dám nói ra suốt bao năm qua cho bất kì ai, bí mật vì sao anh không dám đến đứng bên cạnh bất cứ ai quá gần.



  Ban đầu tôi không dám tin, và anh cũng đã bảo rằng sẽ chẳng ai tin vào điều đó. Nhưng việc câm điếc của tôi có lẽ khiến bí mật của anh dễ tin hơn. Và tôi đã tin anh, đó là một bí mật mà có lẽ cả đời tôi sẽ không bao giờ nói ra, kể cả lúc này tôi cũng không kể với các bạn đâu, bởi tôi là người biết giữ lời hứa mà. Nhưng sẽ không công bằng nếu chỉ mình tôi biết bí mật của anh, và tôi đã chỉ cho anh bí mật của tôi, bí mật về ngọn hải đăng bỏ hoang cũ kĩ. Tôi đẩy cánh cửa nặng trịch đang dần dà bị muối biển ăn mòn giờ đây vốn đã không còn quá khó khăn để mở, nhanh chân chảy lên phần cao nhất. Gió vẫn thế, vẫn thổi mạnh tung bay mái tóc dài tôi như mỗi lần tôi đến đây, nhưng cảm giác lần này thật khác, lần này tôi không còn một mình. Lần này tôi có anh. Tôi bắt gặp anh đang thả diều vào một buổi sáng nọ, hôm ấy thời tiết thật ấm nhưng lại không nắng mấy. Bầu trời xanh thật xanh và cao vút. Anh đang cố gắng khiến chú diều hâu của anh uốn lượn thành hình chữ S và số 8 nhưng hình như đang dần đi đến tuyệt vọng thì phải. Tôi chạy nhanh đến bên anh, khẽ chạm vào bàn tay đang cầm dây diều. Anh khẽ sững người lại rồi nhìn tôi cười. Và tôi giật lấy con diều từ tay anh. It's show time. Tôi bắt đầu thực hiện các cú lượn diều thành những hình S, hình số 8 hoàn mĩ trước con mắt trầm trồ của anh. Và tôi bắt đầu viết chữ lên nền trời xanh thẳm ấy. "I Miss You " Tôi nghĩ là anh hiểu bởi anh nhìn tôi, mỉm cười, nụ cười tỏa nắng. Tôi nhổ viên kẹo dâu tây khỏi miệng. Nhìn anh, tôi cười rồi hôn lấy anh. Tôi thường nghe rằng nụ hôn luôn ngọt ngào nhưng tôi lại hoàn toàn không thấy thế. Nụ hôn giữa chúng tôi có vị chua chua ngọt ngọt như viên kẹo dâu vậy.

   Thời gian thấm thoát qua đi, và đã đến lúc anh phải về nhà. Tôi không muốn phải quay về khoảng thời gian trước đây, quãng thời gian cô đơn không ánh sáng. Ngày mai anh ấy sẽ rời khỏi đây, và tôi không muốn bản thân phải rơi nước mắt khi tạm biệt anh. Tôi đã không đến gặp anh ngày hôm đó, sợ rằng mình sẽ khóc. Anh chạy đến bên tôi lúc tôi đang đứng dưới chân ngọn hải đăng cũ kĩ. Anh dúi vào tay tôi mội bức thư ( nếu không nói chỉ là mảnh giấy ). Nhưng tôi không nhận, tôi không muốn chúng tôi phải chia tay theo cách này. Tôi đã bỏ mặt anh đứng đó. Sau những ngày tháng chơi cùng nhau, có lẽ anh hiểu được tâm trạng tôi. Anh chạy theo, nắm chặt lấy đôi tay đang vùng vẫy của tôi. Anh xếp bức thư lại thành một chiếc thuyền, xong anh vẽ lên cát một nửa trái tim và đặt chiếc thuyền xuống đó, bỏ đi. Tôi hiểu ý anh, rằng nếu tôi không nhận thì sóng sẽ cuốn trôi tất cả, không chỉ nửa trái tim và bức thư kia, mà có lẽ còn là những kỉ niệm tuyệt đẹp của những ngày qua. Tôi khẽ nhặt chiếc thuyền con con được anh xếp một cách vụng về lên. Trong đấy, anh bảo rằng anh sẽ nhớ tôi rất nhiều, anh bảo tôi phải tự tin lên bởi tôi là cô gái đẹp nhất mà anh từng thấy, bảo khi tôi cười, tiếng cười tôi như tiếng đàn violoncello. Không biết tự lúc nào, nước mắt tôi đã rơi khiến đôi môi mặn chát. Nhìn xuống nền cát, nửa trái tim anh vẽ có lẽ sẽ không bao giờ được hoàn thành, bởi chăng những con sóng đã xóa mờ nó, cuốn nửa trải tim của anh rời khỏi tôi thật xa. Sáng hôm rời khỏi bãi biển xinh đẹp này, anh đã chạy đến gặp tôi. Anh viết lên mẫu giấy nhỏ rằng tôi đừng buồn bởi năm sau, ngay khi mùa hè bắt đầu, anh sẽ trở lại đây với tôi. Tôi cũng hứa với anh rằng từ ngày đầu tiên của mùa hè, tôi sẽ đứng dưới ngọn hải đăng chờ anh quay lại. Lời hứa ấy mãi trong lòng tôi, chưa bao giờ bị xóa nhòa nhưng có lẽ không phải thế với anh.



 Tôi chờ anh ngày này qua ngày khác, suốt bốn mùa hè. Nhưng anh đã ra đi và không quay lại nữa. Anh đã không giữ lời hứa của mình. Tôi đã đợi anh suốt bốn mùa hè. Mảnh giấy ấy giờ như nhàu nát, nhưng mỗi ngày tôi lại mở ra và đọc lại hàng trăm lần, không chỉ vì tôi nhớ anh, mong anh quay về mà còn để tin rằng những ngày tháng mùa hè tuyệt đẹp năm ấy là sự thật, không phải là giấc mơ mà kẻ thiếu bạn như tôi tạo dựng. Tôi đã quyết định rồi, tôi sẽ không ngồi đây mơ lại giấc mộng tuyệt đẹp kia, không chìm vào quá khứ nữa. Với kẻ câm điếc như tôi nếu mãi dậm chân tại chỗ chắc chắn sẽ chết mòn từng ngày mà thôi. Tôi quyết định vực dậy, tìm cho mình một đam mê, một ước mơ để theo đuổi, tôi sẽ bước tiếp để tương lai tôi đẹp hơn, để khi anh trở lại, anh sẽ không còn thấy tôi chỉ là một con bé câm điếc vô dụng chỉ biết chạy trốn, chỉ biết chạy theo anh, chỉ biết chờ đợi hạnh phúc đến với bản thân mình. Tôi sau khi cân nhắc kĩ lưỡng đã nói với bố mẹ tôi về ước mơ mà tôi quyết định sẽ theo đuổi. Tôi sẽ vào nhạc viện, học chơi violoncello, chiếc đàn mà anh bảo tiếng cười tôi giống như những điệu nhạc phát ra từ chiếc đàn ấy. Tôi sẽ thử cảm nhận xem tiếng cười mình như thế nào dù không thể nghe như những con người bình thường khác. Ánh mắt bố mẹ tôi sau biết điều đó ánh lên sự tuyệt vọng. Tôi có lẽ cũng đoán trước được điều này. Việc một con bé câm điếc muốn học đàn chẳng khác nào một người cụt hai chân đòi đi thi chạy. Sau đó tôi thấy hai người thì thào với nhau điều gì đấy, có những cái lắc đầu và những đôi môi mím lại. Sau đó, họ đồng ý giúp tôi khăn gói lên thành phố học nhạc. Tôi thật sự rất ngạc nhiên vì điều này, thật khó tin rằng bố mẹ đồng ý cho một đứa con gái không nghe được như tôi đi học. Mẹ tôi giải thích rằng thay vì phản đối và khiến tôi mãi sống trong bóng của bố mẹ, mẹ muốn tôi thực hiện được ước mơ của bản thân như những cô gái khác.

   Ngày cuối cùng trước khi ra đi, tôi rảo qua chào tất cả mọi người trong làng. Xong, tôi đến từ biệt tòa hải đăng cũ kĩ, bí mật của tôi. Tôi leo lên nơi yêu thích nhất của mình trên ngọn hải đăng, ngồi đấy hưởng thụ những ngọn gió mát từ biển thổi về. Không biết bao giờ tôi mới có thể cảm nhận lại nó đây. Tôi đặt con diều kỉ niệm của tôi và anh vào một chiếc hộp nhỏ cùng một mảnh giấy như lúc anh rời khỏi nơi đây. Để khi trở lại thay vì tìm được tôi, anh sẽ tìm ra chiếc hộp này, hiểu được bao niềm tin, cố gắng của tôi đã đỗ vỡ. Và tôi ra đi, đi khỏi quê hương, đi khỏi mảnh đất đầy nắng và cát, để lại tuổi thơ và những kỉ niệm đẹp lại đấy, lại bờ biển ấy, để sóng cuốn trôi. Một cuộc sống mới của tôi sẽ bắt đầu.

Messie Huỳnh